Hình ảnh

Hình ảnh
Ảnh Đỗ Võ Cẩm Thạch

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Con gái viên Đại Úy - Đỗ Ngọc Thạch

http://tintuconline.com.vn/Library/myImages/15/2006/10/xahoi01/gaidep3.jpg

Truyện ngắn

Con gái viên Đại Úy Đỗ Ngọc Thạch

1.“Tên khai sinh của tôi là Cầm Tịnh . Họ Cầm là một họ lớn của người Thái Tây Bắc, bỏ chữ Cầm tôi cũng tiếc lắm, nhưng tôi vẫn thích được gọi là Thanh Tịnh hơn, bởi vì được mang tên nhà thơ là một vinh dự lớn không dễ gì có được !” – đó là câu tự giới thiệu khi có ai đó hỏi : “ Nhà thơ Thanh Tịnh là người xứ Huế sao ông lại nói giọng Bắc ?”
Trước hết phải xin lỗi nhà thơ Thanh Tịnh để xin được gọi nhân vật của truyện ngắn này là Thanh Tịnh vì anh ta không chịu gọi là Cầm Tịnh . Đi tới đâu , anh ta cũng thích được giới thiệu rằng “ Đây là nhà thơ Thanh Tịnh !”. Chắc rằng nhà thơ Thanh Tịnh cũng đồng ý vì anh ta thuộc hết những bài tấu của nhà thơ và có thể nói đó là một trong số không nhiều lắm  những người truyền bá không mệt mỏi, không ngưng nghỉ cho thể tài này của nhà thơ  !
Xin được nói sơ lược vài nét Lý lịch trích ngang của “nhà thơ Thanh Tịnh”. Là con của một gia đình người dân tộc (Thái) có công với cách mạng , Thanh Tịnh được vào học trường Thiếu sinh quân rồi tiếp theo là trường sĩ quan. Ra trường , với quân hàm Thiếu úy , lại có tài ăn nói (Thanh Tịnh không chỉ có tài thuộc hết thể độc tấu của nhà thơ xứ Huế Thanh Tịnh  mà còn thuộc gần hết “Thơ Bút Tre” và những truyện cười dân gian, truyện “ Tiếu Lâm”…)  nên Thanh Tịnh được quân lực xếp vào loại hạt giống của công tác tuyên truyền – văn nghệ. Từ trợ lý Trung đoàn , lên trợ lý Sư đoàn , rồi trợ lý Bộ Tư lệnh Binh Chủng, Quân Chủng… Không biết Thanh Tịnh sẽ lên cao tới đâu trên con đường “Binh nghiệp”  nếu như đồ thị trường đời không bị trồi lên sụt xuống như là đồ thị hình Sin trong toán học : từ thiếu úy lên đại úy một mạch , rất nhanh, nhưng lên thiếu tá được một hồi lại tụt xuống đại úy , rồi lại lên thiếu tá, rồi lại tụt xuống đại úy, rồi lên thiếu tá lần thứ ba , lần này lên tiếp trung tá, nhưng được vài tháng lại xuống thiếu tá, rồi xuống  nữa , tức đại úy ! Nói tóm lại Thanh Tịnh cứ lên , xuống trong khoảng từ đại úy đến trung tá như vậy không biết bao nhiêu lần trong suốt gần bốn chục năm của con đường “Binh nghiệp”.  Tôi , người viết cái truyện này , gặp Thanh Tịnh khi anh ta đang là  Trợ lý văn nghệ Trung đoàn, còn tôi là giáo viên văn hóa (dạy văn hóa hết trình độ phổ thông cho sĩ quan cấp úy).
Tôi là giáo viên văn hóa nên ngoài những đợt có lớp học, tôi không có việc gì phải làm thường xuyên,thường theo Thanh Tịnh cho vui và cố nhiên là cần “điếu đóm” là có tôi ngay. Tuy hơn tôi hai tuổi và quân hàm thì hơn hẳn mấy cấp  nhưng Thanh Tịnh mày tao chí tớ rất bình đẳng và có chuyện gì “bí mật”   cũng kể hết cho tôi, có “phi vụ” gì cũng rủ tôi đi cùng . Đó là vào cuối thập niên 1960 – khi mà cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước ở cả hai miền Nam , Bắc đều rất ác liệt !  Với khẩu hiệu “Tiếng hát át tiếng bom”, công tác văn hóa – văn nghệ càng được coi trọng hơn bao giờ hết  và vào những đợt Hội diễn văn nghệ từ cấp Trung đoàn trở lên vai trò, vị trí của Thanh Tịnh  thật là đặc biệt , ở đâu cũng thấy nhắc đến Thanh Tịnh , các thủ trưởng luôn gọi điện hỏi thăm, động viên Thanh Tịnh luôn lập công đầu và không khó khăn gì để các thủ trưởng thăng cấp, lên sao cho Thanh Tịnh . Nhưng , chữ ký  còn chưa ráo  mực  thì Thanh Tịnh lại có “Phốt”, và thường là ký quyết định giáng cấp, hạ sao  nhanh hơn thăng cấp, lên sao vì những lúc ấy không có hội diễn văn nghệ , trời lại quá nóng bức hoặc quá giá rét !
Thực ra , tôi đã biết Thanh Tịnh từ ngày mới nhập ngũ. Chúng tôi được tập trung huấn  luyện tân binh ở một đại hội Ra-đa. Lúc đó Thanh Tịnh mới ra trường. là trợ lý văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền của Bộ tư lệnh Binh chủng (Binh chủng Ra-đa là binh chủng mới được thành lập , có lẽ là binh chủng ra đời muộn nhất của quân đội NDVN). Thanh Tịnh (từ đây gọi tắt là TT ) đến nói chuyện thời sự và đọc thơ Bút Tre, diễn độc tấu rất có duyên, rất lành nghề. Người nghe hết vỗ  tay rào rào lại cười nghiêng ngả. Tan cuộc, có hơn mười cậu tân binh xúm quanh TT xin chép mấy bài thơ Bút Tre, vừa chép vừa cười  như pháo nổ. Cách đám tân binh vây quanh TT khoảng chục bước chân  , có hai cô thôn nữ đang bá vai bá cổ nhau cười khúc khích, thi thoảng lại đùn đẩy nhau, đấm lưng nhau thùm thụp!...TT đã nhìn thấy hai cô thôn nữ , anh dơ tay ra hiệu “xì-tốp” và nói:
- Thôi đủ rồi! Của quý thì phải tiêu hóa từ từ kẻo bội thực thì khốn! Bây giờ tôi có một trò chơi rất hay. Các bạn nhìn thấy hai cô thôn nữ xinh đẹp kia không ?
Mọi người thoắt im lặng, ánh mắt đổ dồn vào hai cô gái. TT nháy mắt vẻ tinh quái, nói:
- Bây giờ chúng ta chơi trò đánh cá: trong năm phút, ai “cưa”  đổ hai cô gái kia, một  cũng được, thì mọi người phải nộp hết số tiền có trong túi !
Đám tân binh nhìn nhau rồi nhìn hai cô gái, ngần ngừ. TT chỉ chờ có vậy, nói:
- Tôi sẽ nhận nhiệm vụ “thợ cưa”, ai đánh cá xin dơ tay !
Tất ca đều dơ tay! TT nói cần một  đồng đội hợp đồng tác chiến rồi tiện tay kéo tôi đi theo. Được bốn năm bước, TT bỏ tôi lại mà vọt lên, thoắt cái đã tới bên hai cô thôn nữ. Không biết anh ta nói gì mà một cô đi lại phía tôi. Cũng không biết anh ta nói gì mà cô kia đi cùng anh ta một đoạn rồi cả hai người mất hút sau hàng dâm bụt um tùm !...Còn cô gái đi lại phía tôi, đúng cách tôi khoảng hai bước chân, tay cứ vân vê tà áo, mắt cứ cụp xuống  như là nhìn ngực mình!  Tôi chỉ nói được một câu chào rồi cứ vuốt tóc, sờ tai mà không biết nói gì! …Tôi đang định hỏi tên cô gái thì giật mình khi thấy TT đã đứng nhìn đồng hồ rồi nói:”Đúng năm phút!” và nói với cô gái đang vân vê tà áo :”Lại đây, các anh tân binh muốn làm bạn với em đó!    TT cầm tay cô gái kéo đi nhưng cô gái giật tay lại và vùng chạy, miệng gọi lớn “Na ơi!...”TT và tôi quay trở lại đám tân binh tuyên bố thắng cuộc. Mọi người hỏi bằng chứng thì TT lấy trong túi quần ra một cái “xi-líp” gí vào mũi từng người  mà nói:”Mùi gái trinh thơm tho chưa !...”.Tất cả đám tân binh kinh ngạc tột độ !...
2. Hồi kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, chuyện “luyến ái bất chính” bị coi là “tội lỗi” và thường bị trừng phạt khá nặng. Như TT là nhẹ, các thủ trưởng cấp trên còn nương tay vì dù sao anh ta có tài văn nghệ, người có tài thường có tật, tài và tật có thể bù trừ cho nhau. Việc “trị tội” TT chỉ xảy ra khi có  cô gái nào đó kiện cáo, tố giác lại gặp đúng lúc vị thủ trưởng nào đó không ưa TT. Còn nếu xử tội “luyến ái bất chính” đối với TT một cách sòng phẳng theo số lần tái phạm thì có lẽ TT phải bị giáng xuống cấp bậc thấp nhất, tức binh nhì !...
Đến đây, chắc có bạn đọc sẽ cho là “nhiễu sự”, nhòm ngó vào  chuyện  “đời tư’ của người ta làm gì? Vâng, quả đúng là như vậy, tôi chẳng để ý đến những chuyện “chim  chuột” của TT làm gì nếu như tôi không gặp cô con gái của TT. Đó là vào năm 1994, tôi đang làm biên tập cho một tờ báo tuần của Bộ LĐ, TB-XH. Một hôm, tôi nhận được một bài viết về một vấn đề khá nhức nhối có nhan đề “Những đứa con không bố”. Mới đọc nhan đề, cứ nghĩ đó là những đứa trẻ mồ côi cha. Hai cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, ác liệt chống Pháp rồi chống Mỹ đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người cha ở chiến trường.  Trở lại bài báo, đọc xong mới té ngửa vì không phải viết về những đứa con có bố hi sinh ở chiến trường  mà là những đứa con không biết bố mình là ai bởi vì  từ khi  đứa bé còn là thai nhi đến khi tồn tại trên cõi đời , người bố không hề xuất hiện ! Người mẹ của những đứa trẻ này có nhiều biểu hiện khác nhau : người thì giấu kín , tìm cho con một người bố hợp pháp bằng cách cưới chồng khi thai nhi mới một, hai tháng ,  người thì ở vậy nuôi con nhưng không hề nói bố đứa bé là ai, người thì tìm cho con một người bố dượng, vân vân ! Bài báo đặt vấn đề phải đi tìm người bố “mất tích” kia và phải trừng phạt bằng pháp luật  ! Nhìn địa chỉ tác giả ở cuối bài viết tôi nghĩ đây là một cô bé sinh viên năm cuối khoa báo chí chắc chắn hiểu biết về sự đời chưa là bao, đây chắc là một bài tập về việc viết báo mà cô ta đã làm ở lớp học, thử gửi đến  tờ báo có nội về những vấn đề    hội này xem có đăng  được không ? Nghĩ  vậy nên tôi xếp vào tập bài lưu, chỉ cho đăng tên cô ta ở  Hộp thư :  Cầm Thị Tĩnh .
Tôi  sẽ quên luôn chuyện bài báo  và cái tên Cầm Thị Tĩnh nếu như không có sự việc sau :  một tuần sau tôi lại nhận được bài báo “Những đứa con  không bố” nhưng lần này chỉ viết về một người bố mà có tới chín mươi chín đứa con ! Theo bài báo thì tác giả đã mất bốn năm để đi đến những địa chỉ mà người bố kia đã   “gây tội ác”  rồi   “quất ngựa truy phong”  để gặp những đứa con không bố đó ! Kèm theo bài báo là danh sách và địa chỉ chín mươi chín đứa con chưa biết mặt bố !  Còn người bố kia là ai thì bài báo nói rằng  nếu sau khi bài báo được đăng , công luận lên tiếng và pháp luật ra tay thì tác giả mới cho biết tên và địa chỉ của ông ta ! Nhìn vào danh sách địa chỉ của chín mươi chín đứa con tôi giật mình khi chợt nhớ lại có một lần , TT đã cho tôi xem mấy trang trong cuốn nhật ký của anh ta có danh mục “ Những nơi đã đi qua”, theo trí nhớ không tồi của tôi thì những địa danh của danh sách chín mươi chín đứa con này chính là những địa danh đã được ghi trong sổ nhật ký của TT  ! Chẳng lẽ …
Tôi tìm đến nhà của Cầm Thị Tĩnh không khó khăn gì, một căn hộ vừa phải trong khu phố “Nhà binh” .   Tĩnh là một cô gái xinh đẹp, hài hòa và cân đối. Cô càng đẹp một cách rực rỡ trong y phục người Thái : đầu đội khăn Piêu, áo chẽn trắng bó sát khuôn ngực nở nang làm cho hàng cúc bạc lấp lánh kỳ ảo. Tôi xin cam đoan rằng tấm ảnh cô chụp cùng với người mẹ trong y phục người Thái năm cô 20 tuổi là tấm ảnh đẹp nhất về người phụ nữ Thái mà tôi từng được biết !...
Tĩnh ở nhà một mình . Mẹ cô đang nằm viện vì bệnh ung thư tụy . Bà cũng trạc tuổi tôi, đã phục vụ hơn 30 năm trong quân y viện, quân hàm thượng tá. Chồng bà , tức bố của Tĩnh , đúng như  tôi dự đoán, chẳng phải  ai xa lạ  mà chính là nhân vật TT đã nói đến từ những dòng đầu tiên  của truyện ngắn này . Lúc có quyết định nghỉ hưu, TT đang mang quân hàm đại úy, đó là vào năm 1996. Lúc này, TT  còn đang tại ngũ và làm việc ở khu vực phía Nam .  Giá như tôi được gặp TT tại đây, tại nhà anh ta, bên cạnh vợ con thì hay quá, bởi muốn nhìn nhận một cách đầy đủ về một người cha thì phải nhìn thấy anh ta sống như thế nào trong ngôi nhà của mình, bên cạnh vợ và con !
Ngồi nói chuyện với Tĩnh hồi lâu, tôi đã quan sát  cô gái rất kỹ , bằng cả thuật tướng  số , bằng cả linh cảm, trực giác mà không hề thấy một chút, dù là mờ ảo bóng dáng, dấu ấn của người cha – tức TT, ở cô gái này ! Tôi phỏng đoán : TT mê mải với những cuộc tình gió trăng bên ngoài, tất “hệ thống phòng thủ” ở nhà – hậu phương ,anh ta chẳng ngó ngàng gì – bị xâm lăng là tất yếu! Cô gái dường như đang sốt ruột chờ câu trả lời của tôi về bài báo “Những đứa con không bố’, có dùng hay không? Tôi thì đang phỏng đoán lung tung, cho nên cuộc nói chuyện kéo dài mà chẳng ăn nhập gì cả! Tôi không biết phải trả lời thế nào với Tĩnh về bài  báo? Báo đang tập trung vào những vấn đề thời sự của xã hội, trọng tâm của ngành như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, xuất khẩu lao động, v.v…còn bài viết của Tĩnh, thực chất là vấn đề “con hoang” tức con ngoài giá thú, là vấn đề muôn thuở, lúc nào đề cập đến cũng được, lờ đi cũng không sao! Nhưng với Tĩnh lại rất bức xúc, biết nói thế nào bây giờ? Tiếng chuông điện thoại nhà Tĩnh réo liên hồi, cắt ngang sự suy nghĩ của tôi. Tĩnh nghe điện thoại, mặt cô lộ rõ vẻ hốt hoảng. Đặt ống nghe xuống, Tĩnh vừa nói vừa run:”Mẹ cháu không ổn rồi, mẹ cần gặp cháu ngay !”
Tôi đi cùng Tĩnh đến bệnh viện, bà mẹ Tĩnh đã rất yếu, hơi thở mong manh, tiếng nói nhẹ như gió thoảng. Bà mẹ hé mắt nhìn Tĩnh, nói nhỏ:
- Con tha lỗi cho mẹ, mẹ đã giấu con hai mươi năm nay. Bố đẻ của con là chú Tình chứ không phải ông Cầm Tịnh.! Chú ấy vẫn yêu mẹ, vẫn không lấy vợ để chờ ngày đón mẹ con mình về…Mẹ thật có lỗi với chú ấy… Con hãy về với bố đẻ của con…con sẽ hạnh phúc…
Tĩnh gục xuống mẹ, khóc ngất…Bà mẹ cũng trào nước mắt – những  giọt nước mắt  cuối cùng của người đàn bà bất hạnh…Môi bà mấp máy như muốn nói điều gì nhưng không nói được nữa…Đúng lúc đó, một người đàn ông mang quân hàm đại tá bước vào. Đó là nhà báo Văn Trọng Tình, học  trước tôi một năm ở trường Đại học. Ông  đến bên hai mẹ con Tĩnh. Bà mẹ cầm lấy  bàn tay run rẩy của ông Tình đặt lên bàn tay đẫm nước mắt của Tĩnh. Người mẹ âu yếm nhìn hai người, nở một nụ cười nhẹ nhàng rồi nhắm mắt lại vĩnh viễn !,,,
3.
Sau đám tang mẹ, Tĩnh chủ đông đến Tòa báo gặp tôi, nói:
- Cháu xin lại bài báo bởi cháu không còn là Cầm Thị Tĩnh nữa mà là Văn Bình Tĩnh. Đời luôn nhiều bất trắc nên người ta phải bình tĩnh mọi  lúc, mọi nơi, có vậy mới có thể đối mặt với nó !
- Vậy cháu không định đưa những thằng bố không bao giờ biết đến mặt con ra trước vành móng ngựa nữa hay sao? – Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Cháu cần thời gian để bình tĩnh suy nghĩ cho kỹ. Trước hết, cháu cần gặp ông Cầm Tịnh. Ông ta hiện đang ở Sài Gòn. Mai cháu sẽ đi Sài gòn…- Tĩnh nói rồi chào tôi ra về.
Ngày hôm sau, tôi cũng có việc phải đi xa: đến  Sở Lao động, TB-XH Đắc Lắc. Đến Đắc Lắc, Sở cử người phụ trách chương trình nước sạch đưa tôi đi Bản Đôn. Đến Bản Đôn, thật bất ngờ, tôi đã gặp “nhà thơ Thanh Tịnh”. Thì ra TT đang khảo sát thực địa  để đầu tư vào Bản Đôn. Nhìn những con voi to lớn kềnh càng đang lững thững bước đi trên trảng cỏ, TT chậm rãi nói thủng thẳng:
- Khi tiếp xúc với nhưng anh bạn to xác này tớ thấy mình như bước sang một thế giới khác, kỳ lạ lắm, cứ như là lạc vào vườn địa đàng… Khi nghe truyện Vua voi Khunsunôp, tớ bị cuốn hút mãnh liệt… Tớ đang chờ Quyết định nghỉ hưu, sau đó thành lập công ty TNHH Vua Voi, tớ sẽ làm du lịch, làm sống lại thời oanh liệt của vua voi Khunsunôp!...Tớ sẽ là Vua Voi Khunsunôp thời đại mới !...
- Vậy anh bỏ nghề nói chuyện  thời sự, đọc thơ Bút Tre  và diễn tấu Thanh Tịnh hay sao? – Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Bỏ sao được ! Những cái đó đã trở thành máu thịt, giờ sẽ được đem ra phuc vụ khách du lịch!...Bây giờ  mời  cậu và cả anh bạn “Nước sạch” đến nhà mới của tớ ở Buônmê, cậu sẽ có thêm ngạc nhiên về cái ông “Đại úy i-nốc” này !...
Quả là đáng ngạc nhiên khi tôi tới nhà của TT. Nhà xây theo kiểu “Gô-tích”, rất rộng, trước và sau đều có mảnh vườn trồng đủ các loại hoa – rất hợp với chủ nhà là người “chơi hoa” tham lam và dễ tính : “hoa “ gì cũng chơi, cốt ở số lượng – “càng nhiều càng ít” !... Ra mở cổng là người đàn bà trạc tứ tuần nhưng phong thái đi đứng, ăn mặc không khác gì hoa hậu. Chúng tôi ngồi chưa được năm phút thì các món ăn nghi ngút hương thơm đã được bày ra kín bàn. Tôi lại bị ngạc nhiên nữa khi người rót rượu là một cô gái hao hao giống  “hoa hậu Tứ tuần” nhưng trẻ hơn nhiều. Thấy tôi chăm chú nhìn cô gái, TT nheo mắt cười ranh mãnh rồi nói:
- Ông bà ta có câu “Mía ngọt đánh cả cụm”, tớ chỉ là cậu học trò nhỏ mà thôi!...  
Bữa tiệc rượu được nửa giờ thì người phụ trách chương trình nước sạch nhận được diện thoại, về trước. Lúc đó, TT mới kể cho tôi nghe về hai phu nhân mới này. Bà chị tên Kháng, bà em tên Chiến. Gia đình hầu hết đều là quan chức, như bà Kháng đây đã làm tới chức phó chủ tịch huyện. Ông chồng làm tới phó chủ tich tỉnh thì được ra Hà Nội học gì đó, mê mẩn mấy cô người mẫu , ở lại luôn thủ đô. Bị chồng ruồng bỏ, bà vợ uất quá, định nhảy xuống sông Sê-rê-pôc thì TT  bất ngờ xuất hiện!...Khi TT kể đến đây, bà cựu phó chủ tịch huyện che miệng cười rúc rích. TT bèn nói:
- Đoạn hay nhất tôi xin nhường lời cho phu nhân đệ nhất !
Cạn xong  li rượu nhỏ, đệ nhất phu nhân nói liên một mạch mà không e dè gì cả:
- Lúc đó, em đang  vịn vào thành cầu, nhìn xuống dòng sông cuộn chảy mà thấy sợ quá, run quá tưởng như sắp rơi xuống sông!...Em không muốn chết ! Em định la lên thì anh TT xuất hiện ngay sau lưng em, ôm lấy em mà nói:”Đừng dại dột”. Em thấy có vật gì cưng cứng  chọc vào mông, tưởng như nòng súng của bọn cướp, bèn thò tay ra sau nắm lấy, ai ngờ nó lại âm ấm, mềm mềm, cứng cứng…
- Thế là em nắm chặt lấy, đúng không ? – TT chen ngang.
- Anh thật là tinh quái !...- “hoa hậu bốn mươi” lườm TT cũng bằng ánh mắt tinh quái rồi nói tiếp – Chính ngay lúc đó em chợt nghĩ,  ông trời đã bù đắp cho em thật hậu hĩnh.  Ông chồng cũ của em, cái ấy chỉ như của trẻ con.Mấy bà bên Hội phụ nữ cứ găp em là trêu “đuôi chuột ngoáy lọ mỡ”!...
Bà em – đệ nhị phu nhân – giờ mới góp lời:
-Từ ngày em bị cái “dùi cui cảnh sát” của anh ấy đánh gục, em bị mất biệt danh “Người đàn bà thép”, giờ cả văn phòng huyện Đoàn  gọi em là bà “Cảnh sát trưởng”! 
TT đã say mèm, cầm muỗng gõ xuống tô lè nhè  hát :” Chú voi con ở Bản Đôn, chưa có buồi nên gọi trẻ con…”. Điện thoại của tôi reo, thì ra cô con gái viên đại úy (giờ là con gái ngài đại tá) gọi cho tôi từ Sài gòn. TT say thế nhưng vẫn biết tôi đang nghe điện thoại, nói:
- Ai gọi thì bảo tới đây chơi luôn, không  say không về !
Tôi nói thật đó là  cô bé Tĩnh gọi thì TT giật nảy người :
- Không được !...Cậu nói là tớ đang làm việc ở ngã ba biên giới, rồi sẽ đi  Natarakiri.! Bảo nó lấy chồng đẻ con đi, đừng có nghĩ vớ vẩn !...- Rồi TT lại lè nhè hát – Chú voi con…
Như là vô thức, tôi nói lại cho cô bé Tĩnh những gì TT vừa nói, lập tức tôi nghe Tĩnh nói:
- Chú nói với ông ta rằng nếu trốn cháu, cháu sẽ thuê bọn xã hội đen tới  cắt dái !
Tôi nói lại với TT, ông ta líu ríu:
- Thôi được, thôi… nói với nó là mai tôi sẽ xuống Sài Gòn trình diện, được chưa?
*
Tôi lại nhận được điện thoại nói lên Pleicu rồi Kon Tum gấp, thế là tôi bỏ đi luôn, tiếng hát lè nhè của  TT cứ như là đuổi theo thành cái đuôi: Chú voi con ở Bản ĐônChưa có buôi nên gọi trẻ con  
Tới Plêi Cu rồi đi Kon Tum tiếp, ba ngày liền mệt nhoài, vậy mà vẫn phải đi tiếp tới huyện Đăc Glêi. Trời tối mịt mới tới  Ủy ban huyện. Trong lúc ngồi uống bia 333 không đá với UB huyện, khi tôi lơ mơ ngủ gà ngủ gật thì nghe cậu chánh văn phòng Ủy ban nói:
- Ở bên Buôn Mê có ông sĩ quan quân đội bị cắt “của quý” ngay tại nhà !  
Tôi định gọi cho cô bé Tĩnh hỏi xem thế nào nhưng lại nghĩ,  chuyện ông TT bị trừng phạt là tất nhiên , sớm hay muộn, nặng hay nhẹ mà thôi !...
 
Đỗ Ngọc Thạch
Ngày đăng: 14.02.2009
 

http://www.vietdiscovery.com/images/image/khamphamienbac/tamsuoi.jpg
Tắm Tiên
Tới thăm chú voi con ở Bản Đôn
Voi Bản Đôn (Buôn Đôn)

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Anh hùng thọ nạn - truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Nhà báo Đỗ Ngọc Thạch Đỗ Ngọc Thạch  S.G- 1993
t r u y ệ n   n g ắ n   đ ỗ   n g ọ c   t h ạ c h   t r u y ệ n   n g ắ n  đ ỗ   n g ọ c   t h ạ c h

Anh hùng thọ nạn

Đỗ Ngọc Thạch

Chiều chiều én lượn Truông  Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong rừng…
(Văn Doan diễn ca)
 
Lía là người Quảng Ngãi, nhà nghèo, bố mất sớm, mẹ Lía tần tảo nuôi con. Khi bố mất, Lía chưa tới mười tuổi nhưng đã có sức khỏe khác thường. Những khi nhà không còn cái gì ăn,  đêm tối, Lía đem theo một con dao thật bén, đột nhập vào chuồng bò của mấy nhà giàu, xẻo cả tảng thịt đem về. Mấy nhà giàu trong vùng đều thấy trâu bò của mình bị bóc từng mảng thịt như thế, tưởng là chó sói, phục bẫy bắt nhưng không được…
 
Ở vùng quê Lía có nhiều thầy dạy võ, Lía rất muốn học nhưng không có tiền nên chỉ lảng vảng nhìn trộm. Vài lần nhìn trộm như thế, Lía lại học được một vài miếng võ. Có ông thầy dạy võ nhìn tướng mạo Lía khác thường thì bảo:
- Thằng nhỏ kia, mày vào đây, chịu đòn nổi năm  môn sinh của ta thì ta sẽ thu nhận làm đệ tử…
Thực ra, ông thầy này muốn dùng Lía làm vật thí để cho môn sinh tập ra đòn. Lía ưng ngay, chạy vào đứng trơ trơ giữa sân. Lần lượt cả năm người vác roi nhảy tới đánh Lía đều bị Lía túm lấy roi và bẻ vụn !... Ông thầy thất kinh , nói:
-  Thằng bé này có sức mạnh cử đỉnh của Hạng Võ !
Vừa dứt lời, ông thầy nhấc cái cối đá để ở đầu nhà ,ném vút vào đầu Lía. Lía xoay người chờ cái cối bay ra sau lưng mới thò tay bắt như bắt một hòn sỏi. Ông thầy cả sợ, đứng ngó Lía trân trân rồi té xỉu ! Lía thấy vậy thì bỏ về, vừa đi vừa nghĩ: Mấy ông thầy dạy võ ở đây tòan loại tầm thường cả. Ta phải lên núi tìm Tiên ông mới mong có cái mà học…
Từ đó, trong bụng Lía đã có ý muốn ngao du, nhưng Mẹ Lía thấy Lía còn nhỏ nên không cho đi. Đến khi xảy ra truyện sau đây thì mẹ con Lía phải bỏ làng quê mà đi.
Một hôm, Lía vừa  đi lấy củi về thì nghe trong nhà có tiếng kêu la hoảng hốt của mẹ. Lía đặt gánh củi chạy vào, giật mình kinh ngạc khi thấy mẹ đã bị lột hết quần áo và lão xã trưởng đang vật lộn cố đè bà nằm ngửa ra. Lía không kịp nghĩ ngợi gì, nhào tới, hai tay nắm chặt lấy đầu lão xã trưởng mà giật mạnh. Mẹ Lía chưa kịp hiểu chuyện gì thì đã thấy Lía mắt trợn trừng, hai tay nắm chặt cái đầu lão xã trưởng máu mê đầm đìa. Bà mẹ thất kinh nói:
-  Trời đất ơi!...Con tôi phạm tội giết người rồi !... Trời ơi là trời…
  Lía nói   :
-  Con chỉ cầm đầu lão để kéo ra, ai ngờ cái cổ của lão đã đứt luôn ! Biết làm sao bây giờ?
-  Làm sao nữa, mẹ con ta phải trốn đi thật xa ngay!.
 Mẹ con Lía vội vàng chôn xác lão xã trưởng  xuống  nền nhà rồi khăn gói gọn gàng, nhằm hướng Nam mà đi mải miết đêm ngày...
 Một hôm, mẹ con Lía đang lần mò trong một khu rừng thì nhìn thấy từ đằng xa, có hai người lính công sai áp giải một người tù, cổ đeo gông, hai bên gông thấy treo lủng lẳng nào là bình nước, đồ ăn thức uống lỉnh kỉnh. Hai người lính áp giải chốc chốc lại lấy cán gươm thúc vào lưng người tù giục đi nhanh và lấy ra một thứ đồ ăn, vừa đi vừa nhai. Đang bị cơn đói hành hạ, Lía nói với mẹ :
-  Chúng ta có cái  ăn rồi mẹ ơi !
-  Đâu ? – Mẹ ngạc nhiên hỏi .
-  Mẹ có nhìn thấy  hai người lính đang áp giải một người tù ở đằng kia không ?
-  Người mẹ nhìn theo cánh tay  Lía chỉ rồi nói :
-  Làm sao mà họ  cho mẹ con mình đồ ăn được ?  Không khéo lại bị ăn roi :  Thôi, lánh mặt đi kẻo mang vạ !
 Mẹ Lía chưa kịp kéo Lía đi  thì hai người lính kia đã nhìn thấy mẹ con Lía. Một người chạy lên vài bước, nói to :
-  Đứng lại !... Đứng lại không ta chém đầu !
  Mẹ   Lía sợ hãi đứng lại còn Lía chạy vọt đi. Người lính kia tiến sát lại mẹ Lía thì giật mình la lên :
-  Trời đất ơi !... Tiên nữ giáng trần !...Giữa rừng hoang này tại sao lại có người đàn bà  đẹp như tiên !
 Nói thì chậm, làm thì nhanh, tức thì người lính nhào tới mẹ Lía, giật phăng cái áo  ném  ra xa, tay kia vừa kéo quần người đàn bà tụt xuống…Bỗng nghe có tiếng roạt, một hòn đá to bằng hai nắm tay bay vút tới đập vào đầu người lính phát ra một tiếng rắc rất nhỏ. Tức thì người lính đổ vật  xuống. Mẹ Lía hoảng hồn chưa biết việc gì xảy ra thì người lính thứ hai đã nhào tới tóm chặt lấy cánh tay trần trắng bóc. Khi bàn tay người lính này vừa chạm vào cánh tay mẹ Lía, một hòn đá nữa đã bay vút tới, cũng trúng đầu. Người lính đổ vật xuống chết ngay.
 Lía chạy tới người tù, bẻ cái gông như bẻ củi khiến người tù kinh ngạc tột độ. Sau khi đã ăn uống no nê rồi, người tù mới nói :
-  Ta vốn là tướng của chúa Trịnh ở ngoài Bắc, chúa Trịnh tàn bạo, triều chính thối nát ta mới bỏ vào nam theo chúa Nguyễn. Ai ngờ chúa Nguyễn cũng không khác gì…Vua chúa sống xa hoa, còn dân chúng thì quá cực khổ, lại chiến tranh nồi da nấu thịt…Ta tụ tập binh mã dựng cờ khởi nghĩa nhưng chưa kịp hành sự thì thằng phó tướng làm phản, ta bị  bắt giải về kinh để xử tội. Nay đã gặp được mẹ con nhà ngươi thật là trời giúp ta…
 Sau đó, người tù kia nhận Lía làm con nuôi rồi tìm một miếng đất có địa thế tốt làm nhà, lập ấp tính chuyện lâu dài. Đất rừng này thuộc huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn, dân anh hùng hảo hán rất nhiều nên chẳng bao lâu, người cha nuôi của Lía đã liên kết được bè đảng khá đông. Khi Lía lớn lên, Lía ngầm trở về làng  cũ liên kết, lôi kéo thêm người lên rừng tụ hội. Gần tới ngày khởi sự, người cha nuôi bỗng bị bệnh mà chết, Lía thay cha chỉ huy, mọi người đều ưng thuận và  bàn nhau kéo quân vào Truông Mây xây dựng căn cứ lâu dài…Nghe tin Lía dựng cờ khởi nghĩa, dân hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn theo về rất đông, không kể là dân anh hùng hảo hán, giang hồ tứ chiếng hay là  dân thường, bởi chế độ cai trị hà khắc của chúa  Nguyễn đã làm họ nghẹt  thở…
*
Quân của Lía đã nhiều lần đánh phá hai phủ Quy Nhơn và Quảng Ngãi, lấy thóc gạo chia  cho dân nghèo, thanh thế của Lía ngày càng lớn. Chúa Nguyễn mấy lần cử tướng đến đánh dẹp, nhưng Lía dựa vào địa thế hiểm trở của Truông Mây mà chống cự, quan quân đánh mãi không được.
Lần ấy, có một người cùng làng với Lía đến gặp quan quân hiến kế :
- Lía thuộc loại hữu dũng vô mưu. Nếu cứ dùng sức mà đánh e hao tổn binh mã bởi Lía có sức khỏe vô địch, bọn tay chân thủ hạ toàn loại anh hùng hảo hán võ nghệ cao cường đều sẵn lòng liều chết vì Lía. Phải dùng mưu độc mới đánh được Lía .
Hỏi mưu độc là gì, người ấy nói :
- Lía có  tính háo sắc. Ngoài những lúc cầm quân đi cướp phá, Lía lúc nào cũng cặp kè bên vợ. Mà vợ của Lía hiện nay chỉ là một người đàn bà tầm thường, chưa phải loại giai nhân tuyệt thế. Bây giờ, Lía đang đắc thắng, có ý làm nghiệp bá vương, đang cho người đi tuyển  người đẹp về  để làm phi tần như các bậc vua chúa. Vậy ta hãy kén lấy dăm ba thiếu nữ thật xinh đẹp, bày đặt mưu kế kỹ càng, cho người đem đến dâng cho Lía. Lía tất mê đắm tửu sắc, lúc đó ta đem quân đánh úp tất bắt được Lía dễ như lấy đồ trong túi.  Đó gọi là mỹ nhân kế.
Mỹ nhân kế ấy được tiến hành  không chậm trễ. Năm  người con gái đẹp được một người làng của Lía đưa đến  Truông Mây, nói dối là xin gia nhập nghĩa quân để trả thù cho gia đình đã bị quan quân chúa Nguyễn giết hại. Lía tin ngay và lập tức bị sắc đẹp của năm người  con gái làm cho mê mẩn . Lía giữ lại cho mình người con gái khỏe mạnh nhất, còn bốn người kia thì cho thủ hạ thân tín lấy làm vợ. Hôm sau, một toán quân của Lía  đi đánh phá ở phủ Quy Nhơn thắng trận trở về căn cứ, nhân đó Lía hạ lệnh khao thưởng ba quân ba ngày liền. Đến đêm thứ ba, quân của Lía  hầu như bị say xỉn  gần hết. Bản thân  Lía cũng ngủ  vùi mê mệt trên tấm phản lớn bằng loại gỗ quý rất nặng và cứng như thép…
Lía đang như lạc vào một cảnh bồng lai  với bầy tiên nữ ríu rít quanh mình thì bỗng giật mình tỉnh dậy khi thấy tiếng pháo nổ rền, tiếng reo hò như thác dội, lửa cháy ngút trời…Lía bật đứng dậy theo bản năng thì lại lăn kềnh ra nền nhà. Lía thất kinh khi nhận ra cảnh ngộ của mình : Toàn thân Lía bị trói chặt vào tấm phản gỗ nặng chịch, xung quanh Lía là một đám quan quân gươm dáo tua tủa đang reo hò ầm ĩ, xô đẩy, tranh nhau xông vào bắt Lía. Lía trợn mắt gầm lên một tiếng cực lớn, vận công lực bật dây trói. Những sợi dây buộc ở chân Lía bung ra tơi tả, nhưng từ bụng trở lên đến cổ vẫn còn thít chặt Lía vào tấm phản. Lía bật dậy dùng tấm ván ở lưng để đỡ gạt gươm dáo và dùng đôi chân với miếng  “liên hoàn cước” đá bay đầu năm thằng đang nhằm Lía mà chém. Nhìn quanh mình không thấy bóng một tay chân thủ hạ nào, Lía lại gầm lên một tiếng cực lớn rồi phóng vào bóng đêm vô tận của đại ngàn…
*
Lía mang tấm phản trên lưng, băng rừng, lội suối, vượt đèo đi mãi, đi mãi… Tới một đỉnh đèo kia, Lía thấy một ông già
Râu tóc bạc trắng như Tiên ông đang tìm kiếm cây thuốc. Lía hỏi:
- Thưa trưởng lão, đây là đâu vậy?
Ông lão nói:
- Đây là đỉnh đèo Mang Yang, có nghĩa là Cổng Trời, hết lối đi rồi…Tráng sĩ sao lại đến nông nỗi này?
- Tôi là thủ lĩnh nghĩa quân ở Truông Mây, vì mắc phải “mỹ nhân kế”  mà quân sĩ tan tành, căn cứ bị đốt phá…Thất bại nhục nhã như thế này, tôi còn mặt mũi nào mà nhìn thấy mọi người nữa!...
Nói đoạn Lía định lao đầu vào tảng đá mà chết. Ông lão ngăn lại, cởi dây trói  trên lưng Lía rồi nói:
- Thắng bại là chuyện thường tình của người cầm quân. Bậc anh hùng hảo hán phải tìm cái chết nơi trận mạc. Tráng sĩ còn trẻ tuổi sao lại  chết vô ích như vậy?
Lía thẫn thờ một lát rồi hỏi:
- Lão trượng có cao kiến gì chỉ bảo cho Lía này chăng?
Đáp :
- Những bậc đế vương ngày xưa nhiều phen trắng tay mà đâu có nản chí, xuôi tay. Thiên hạ nay đại loạn, đó là thời của kẻ anh hùng. Vùng đất này tụ khí đế vương, núi cao vực thẳm hiểm trở là thành trì có sẵn vậy. Điều cốt yếu còn lại là trau dồi bản lĩnh của mình nữa mà thôi. Có được ba điều ấy  tất làm nên nghiệp lớn!...
Lại hỏi trau dồi bản lĩnh như thế nào thì ông lão đáp:
- Thái quá thì bất cập. Thể lực mạnh quá ắt lấn át trí lực, mà muốn làm tướng cầm quân phải trí dũng song toàn, như hai cái cánh của đại bàng. Nay ta sẽ giúp tráng sĩ giảm bớt thể lực đặng gia tăng trí lực. Đây là bọc linh dược ta tặng tráng sĩ, mỗi ngày chỉ cần ngậm một viên, sẽ thấy đầu óc minh mẫn, sáng láng khác thường…
Lía nhận bọc thuốc, chưa kịp nói gì đã không thấy ông lão đâu nữa ! Lía mở bọc thuốc, thấy hương thơm kỳ lạ bay ra, cho vào mồm nếm thử thấy ngọt bùi thơm mát khác thường, phút chốc viên thuốc đã tan biến trong miệng! Chỉ giây lát Lía đã thấy cảm giác sảng khoái khó tả dâng lên, nhìn lên trời cao thấy rõ từng  giọt nước li ti trong những đám mây, nhìn xuống đại ngàn xanh thẳm thấy rõ từng cái gân lá ở xa tít tắp!...
Lía sung sướng cầm bọc linh dược rảo bước. Được một lúc, Lía thấy bụng đói cồn cào, bỗng quên khuấy lời dặn của ông lão, lấy bọc thuốc ra, ăn hết viên này tới viên khác. Khi Lía đã ăn hết bọc linh dược, một con suối tuyệt đẹp hiện ra trước mắt, nước trong vắt róc rách uốn lượn như một dải lụa trắng khổng lồ. Lía đi sát tới bờ suối thì giật mình kinh ngạc khi nhìn thấy một tốp thiếu nữ đang trần mình nô giỡn trong dòng nước. Lía đứng ngây ra như tượng. Nhìn thấy Lía, các cô gái ào tới té nước vào người Lía như mưa rào rồi người lôi người kéo Lía xuống nước.Lía bị các cô gái lột hết quân áo từ lúc nào không hay !?
Quá thẹn thùng lại cả kinh hãi, Lía lao đầu vào tảng đá lớn bên bờ suối mà chết. Dân trong vùng đã tới chôn cất Lía đàng hoàng bên bờ suối, đó là suối K’Tung. Về sau, người ta đồn rằng, trên mộ Lía mọc lên một loài cỏ có lá dài như ngón tay, có hinh dáng như lưỡi gươm, màu xanh đậm như rêu, cực kỳ cứng. Lá cỏ này có tác dụng điều giảm sự kích dục rất nhạy. Nhiều nhà sư luyên võ thuật thường dùng lá cỏ này để điều hòa dục tinh…./.
Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/
 © 2011 - 4phuong.net | Liên hệ: (098)-526-90
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhfHLTD_F21c7vlbdTET1ZrAhiVP39UkSPwU-RF1kfBXPY1-gdISlY91go6D1MhhPFNHTbwodecg4etOK8aaZF2IxCBlBKWOWA73HYPbimcOMOivS3V2L48KJI0eojC2GJAAuE0ENIXGns/s1600/Hoang+hon.jpg chiều chiều...

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Thơ Về Vợ của Nguyễn Duy - Đỗ Ngọc Thạch

Thơ về vợ của Nguyễn Duy
Đỗ Ngọc Thạch
 
Trong tập thơ VỀ (tập hợp những bài viết từ l990 đến 1994) xuất bản cuối năm l994, nhà thơ Nguyễn Duy đã thể hiện rất rõ quan điểm mỹ học “Về với cội nguồn “   của thơ Nguyễn Duy:
Rơm rạ ơi ta trở về đây
Xin cúi lạy vong linh làng mạc
Bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc
Ông và cha man mác kiếp trâu cày
Rơm rạ ơi ta trở về đây
Ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng
Cỏ áy vàng bãi tha ma vắng
Lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà
(Về đồng)
Những câu thơ nặng trĩu hồn quê, lay động tận trong sâu thẳm tâm linh và như từ lúc nào đưa người đọc trở về với bản ngã, với những gì con người nhất. Một lần tôi hỏi Nguyễn Duy, tại sao một con người có máu lang bạt kỳ hồ rất mạnh như anh lại ra hẳn một tập thơ VỀ, anh nói rất rõ:”Đường về trên đồ thị thời gian của thơ tôi như một vòng luân hồi. Tôi đã thử theo nhiều nẻo đường thơ mong đi tìm cho mình một giọng điệu lạ, lòng vòng mãi, lại lần mò về chính cái điểm khởi đầu cuộc hành trình của mình, đó là thơ sáu tám. Kế đó là đường về trên đồ thị không gian thơ tôi, lang bạt hết miền đất này sang vùng trời nọ, rồi lại trở về với vũ trụ chính mình nơi có tất cả những gì gần gũi, thân thuộc, máu thịt nhất của mình. Thêm nữa là sự trở về trong tâm linh, làm thức dậy ký ức cùng những giá trị tinh thần đang rũ rượi ngủ mê hoặc đang chết dần trong lòng mình. Thêm nữa là… về già, về vườn, về nhà với vợ…”.
Và thế là chúng ta có tập thơ VỢ ƠI…Tập thơ VỢ ƠI…(tập hợp 18 bài viết từ 1971 đến 1994 do NXB Phụ nữ xuất bản cuối năm1995) là sự về với vợ trăm phần trăm của thơ Nguyễn Duy. Những bài thơ này đã in rải rác trong các tập thơ trước đó của Nguyễn Duy, lúc đó, đặt bên cạnh những bài thơ có tinh thời cuộc bức xúc, nóng bỏng khác, những bài thơ về với vợ có vị trí khiêm nhường, tĩnh lặng, giản dị… Nhưng khi được tập hợp lại thành một chủ đề về với vợ thì tập thơ “VỢ ƠI…” khiến người đọc giật mình về độ lớn cũng như chiều sâu của hình tượng văn học NGƯỜI VỢ trong thơ Nguyễn Duy. Xin dẫn lại nguyên văn bài thơ “Vợ ơi…” và tôi tin rằng bất kỳ bậc mày râu nào cũng sẽ thấy mình bé nhỏ trước người vợ bình dị mà vô cùng lớn lao khi trở về với vợ :
Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy
Ta chạy rông như gì nhỉ - quên đời
Lúc xơ xác bờm xơm từng sợi tóc
Đói lả mò về
Cơm đâu
Vợ ơi…
Và tao tác bạn bè cơn hoạn nạn
Đòn du côn tóe máu tâm hồn
Và tung tóe cả bướm vàng bướm trắng
Móc họng mửa ra cầu vồng bảy sắc
Vợ dìu ta
Từng bậc
Thang mòn
Đêm huyền ảo một kinh kỳ se lạnh
Một mình ta cô quạnh giữa muôn người
Mặt sông lạ gợn nếp nhăn đuôi mắt
Bủn rủn buồn
Ta thầm kêu
Vợ ơi…
(Praha,7-1990 – Hà Nội,12-1990)
Về với vợ” là một nẻo về có vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm linh thơ Nguyễn Duy được viết bằng những câu thơ ấn tượng mạnh. Nếu như ở tập thơ VỀ vừa nói ở trên con có gì đó trừu tượng, mông lung, huyền ảo thì ở đây vợ là Cõi về cụ thể:
Mải nưng nứng mộng siêu nhân
Lên cơn giá vũ đằng vân giang hồ
Cuộc chơi hành hiệp lơ ngơ
Vắt mình ra mấy giọt thơ nhạt nhèo
Dần mòn con chữ tong teo
Liêu xiêu lều quán lèo tèo ven đê
Cánh buồm mây tướp chiều quê
Ruỗng tênh hênh bịch rơi về cõi em
( Cõi về )
Ta mơ màng ta uốn éo ta lả lơi
Để mặc kệ mái nhà xưa dột nát
Mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác
Mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao
Ta rất gần bể rộng với trời cao
Để xa cách những gì thân thuộc nhất
Nồi gạo hết lúc nào ta chả biết
Thăm thẳm nỗi lo trong mắt vợ u sầu
Viên thuốc nào dành để lúc con đau
Vợ nằm đó xoay xở mần răng nhỉ
Cơn hoạn nạn bỗng làm ta tĩnh trí
Ngọn gió tha hương lạnh toát gia gà…
( Bán vàng )
Trong cuộc đời Nguyễn Duy, cái nạn lớn nhất là vợ ốm và có lẽ qua cái đại hạn này, nhà thơ mới hiểu hết vị trí cũng như giá trị của người vợ trong cuộc đời thi nhân:
Vừa một xuân lại một xuân
Vợ ơi đại hạn đã gần một năm
Một nhà là sáu mồm ăn
Một thi nhân hóa phăm phăm ngựa thồ
Cái lưng em sụm bất ngờ
Tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rời
Thông thường thượng giới rong chơi
Trần gian choang choác sự đời tùy em
Nghìn tay nghìn việc không tên
Mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng
Thình lình em ngã bệnh ngang
Phang anh xát bát xang bang sao đành
Cha con chúa Chổm loanh quanh
Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
Việc thiên việc địa việc nhà
Một mình anh vãi cả ba linh hồn…
( Vợ ốm )
Nguyễn Duy thường có những câu thơ mạnh cả về ngữ nghĩa và âm thanh và thường là thiên về cách nói cay độc, nhiều khi thái quá. Nhưng khi về với vợ, nhũng câu thơ của anh như được chuốt ra từ bàn tay diệu kỳ của người vợ thành những vần thơ lung linh – đó là những vần thơ “thi trung hữu họa” về chân dung người vợ :
Mùa xuân trở dạ dịu dàng
Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
Nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
Dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều
Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
Em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
Má hồng về xứ hồng hoang
Tóc rơi mỗi sợi nghe ngàn lau rơi
Dịu dàng vang tiếng mắt cười
Bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
Bỏ qua tội tháng nợ năm
Tự nhiên giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng…
( Dịu và nhẹ )
Mỗi độ xuân về Tết đến  Nguyễn Duy đều có thơ cho vợ và phải nói đó là những cảm hứng thi ca đẹp nhất của hồn thơ Nguyễn Duy và cũng là những bài thơ được đông đảo bạn đọc đồng cảm nhất, bởi khi nhà thơ về với vợ là về với tình yêu vợ chồng bình dị mà vô hạn – đó mới chính là THƠ TÌNH trọn vẹn nhất, cao đẹp nhất:
ứa nước mắt mà yêu nhau trọn vẹn
khấp khểnh đường dài thập thễnh bon chen
lắm lúc chữ nghĩa vô nghĩa tuốt
bàn tay bé con phủi bụi ưu phiền
trời cho sống ta cũng già em ạ
con thương cha không bằng bà thương ông
tình như rượu chôn lâu đằm lịm lại
cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng
Đỗ Ngọc Thạch

Xem thêm:
Nguyễn Duy – Hành Trình Từ Truyền Thống Đến Hiện Đại
NGUYỄN DUY – HÀNH TRÌNH TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

http://a9.vietbao.vn/images/vn902/thu-viet-nam/20847523_images1783573_1.jpg
đồng quê thanh bình

Sự tích chim Đa Đa - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Văn
 
Sự tích chim Đa Đa - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
 
Tiểu Ngũ là con trai út trong một gia đình có năm anh chị em: anh cả, tên là Công Nhất, anh sinh ra lúc người bố, tên là Quan Gia, lập được công trạng đầu tiên, được thăng chức Trưởng phòng của Sở Nông nghiệp, tên anh được đặt như vậy để kỷ niệm bước khởi đầu con đường quan chức của người bố.
Sau khi lên chức Trưởng phòng, ông Quan Gia ly hôn người vợ trước ở quê với lý do đây là người vợ “Tảo hôn”, hơn ông tới năm tuổi để cưới cô Thục Nữ, con gái của ông Chủ tịch Tỉnh, cũng là Kỹ sư Nông nghiệp, làm việc cùng phòng (thực ra, bà vợ trước cũng không phải là bình dân mà là con gái rượu của ông Chủ tịch Huyện khét tiếng một vùng…). Đầu năm cưới, cuối năm sinh được cậu con trai, đặt tên là Tiến sĩ, bởi lúc này ông Quan gia đang mơ cái bằng Tiến sĩ, bởi nếu không có nó, con đường quan chức của ông chỉ dừng ở cái chức Trưởng phòng - cái chức quan “Bé như hạt vừng” (dân miền Nam gọi là hạt Mè) này mà thôi. Quả nhiên, “cầu được, ước thấy”, người vợ mới của ông Quan Gia tuy “không đẹp” như Hoa Hậu, Hoa Khôi nhưng lại có tướng “Vượng phu ích tử”, tức nuôi con thì hay ăn, mau lớn, giúp chồng một lúc hai kết quả : vừa có bằng Tiến sĩ, vừa lên chức Phó giám đốc Sở. “Thừa thắng xốc tới”, năm sau người vợ tốt tướng lại sinh cho ông Quan Gia người con gái giống mẹ như hai giọt nước và giúp ông lên chức Giám đốc Sở, vì thế người con gái có tên là Nữ Giám… Người xưa có câu “Thấy bở đào mãi”, quả không sai. Ngồi lên cái ghế Giám đốc Sở chưa ấm chỗ, ông Quan Gia đã thấy “cái Sở như là ao tù chật chội”, ông nói với vợ: “Phu nhân quả là Thần May mắn của ta! Mỗi lần phu nhân đẻ con cho ta, quả nhiên ta lại có tài lộc lớn! Mang nặng đẻ đau, phu nhân phải chịu vất vả cực nhọc! Nhưng ta còn phải leo lên cái chức Phó chủ tịch Tỉnh, rồi Chủ tịch Tỉnh nữa. Vì thế, Phu nhân phải đẻ cho ta hai đứa con nữa!”. Bà Thục Nữ nghe nói vậy thì vui lắm, mười phần hưng phấn cho nên sau đó đẻ liền hai đứa con nữa, đứa chị đặt tên là Nữ Chủ, còn thằng em, không hiểu sao lại nhỏ bé hơn các anh chị tới gần một lạng khi chào đời, nên đặt tên là Tiểu Ngũ!... Tuy nhiên, sau khi hai chị em Nữ Chủ và Tiểu Ngũ đã cứng cáp thì ông Quan Gia lên chức Phó chủ tịch Tỉnh và cái chức Chủ tịch Tỉnh, nghe nói chỉ còn chờ một vị “Thượng Quan” ký duyệt, chặng đường quan chức này chưa hết chục năm!
Thời gian thoi đưa, năm người con của ông Quan Gia “lớn nhanh như thổi” và thành đạt như diều gặp gió! Khi Công Nhất, Tiến Sĩ, Nữ Giám, Nữ Chủ và Tiểu Ngũ mới gần tới tuổi ba mươi thì cả bốn người anh chị của Tiểu Ngũ đã có đầy đủ mọi thứ của một “Con người thời đại”: Bằng cấp cao, chức vụ lớn! Duy chỉ có Tiểu Ngũ là cứ dở ngây dở dại, lúc tỉnh lúc khùng, không ai biết thế nào!
*
Vào một ngày Mùa Đông đẹp trời, ông Quan Gia nói với vợ: “Hôm vừa rồi, tôi ngẫu nhiên đọc tập truyện Cổ tích của mấy đứa cháu con thằng Cả, thấy có chuyện “Sự tích Chim Đa Đa” hay lắm!”. Bà vợ nói: “Tôi đọc truyện Cổ tích đó cho mấy đứa cháu nghe chứ ai? Nhưng tại sao tự nhiên ông lại nói tới cái chuyện “Sự tích chim Đa Đa”? Hay là ông đang Cải lão hoàn đồng?”. Ông Quan Gia nói: “Cải lão hoàn đồng thì chưa nhưng tôi có ý này: Thằng Tiểu Ngũ nhà mình đã gần ba mươi tuổi mà cứ “Mãi mãi tuổi Nhi đồng” như thế thật không hay! Nó vừa làm chúng ta mất thì giờ vừa cản trở, kìm hãm sự phát triển, thăng tiến của tôi và các anh, chị nó!... Chi bằng chúng ta học theo truyện cổ tích, cho nó hóa thành chim Đa Đa lại là tốt cho nó!”. Bà vợ ông Quan Gia đã hiểu ý ông chồng: đem thằng con Tiểu Ngũ ngô nghê kia vào rừng sâu để cho nó “hóa thành chim Đa Đa”! Tuy cũng thương con như bao người mẹ khác, nhưng bà vợ ông Quan Gia luôn coi lời ông chồng là “Chiếu chỉ” và phải thực hiện bằng mọi giá! Vì thế, ngày hôm sau, bà cho gọi hai cán bộ Kiểm Lâm tới nói: “Mấy giáo sư hàng đầu về Thần kinh học nói với tôi rằng muốn chữa bệnh “ngớ ngẩn” cho thằng Tiểu Ngũ nhà tôi thì phải cho nó vào rừng tắm trong thác nước lớn nhất một tuần liền! Vậy tôi nhờ hai anh ngày mai đưa nó vào tới thác nước rồi bảo nó chui vào trong thác mà tắm, là các anh xong việc! Sau một tuần, tôi sẽ cho người tới đón!”.
Hai người cán bộ Kiểm lâm nghe xong thì không hiểu “đầu cua tai nheo” thế nào, bèn về nhà hỏi vợ thì cả hai bà vợ đều nói: “Có thế mà không hiểu gì à? Thằng con ngớ ngẩn ấy sẽ bị bỏ đói ở trong rừng sâu và sẽ chết rồi hóa thành con chim Đa Đa! Anh quên cái chuyện Cổ tích Sự tíchchim Đa Đa rồi sao?”. Hai anh chồng Kiểm Lâm chợt nhớ lại nội dung cái chuyện Cổ tích Sựtích chim Đa Đa thì vô cùng kinh ngạc và cùng nói với hai người vợ: “Tôi không thể làm như thế, nhưng không thể không chấp hành lệnh của Bà Chủ tịch Phu nhân! Hãy nói cho tôi cái cách vẹn toàn?”. Tức thì hai bà vợ cùng nói: “Cách vẹn toàn là “Quân lệnh như sơn”! Làm xong nhiệm vụ thì báo cáo lại rõ ràng, chính xác!”. Hai anh cán bộ Kiểm Lâm làm theo lời vợ, ngày hôm sau, đưa Tiểu Ngũ vào rừng, tới đúng chân thác nước dội xuống tung bọt trắng xóa thì bảo Tiểu Ngũ chui vào dòng thác mà tắm rồi chụp liền ba kiểu ảnh đem về báo cáo với Bà Quan Gia Phu nhân!...
Khi Tiểu Ngũ đứng giữa dòng thác thì dòng nước như là mạnh lên gấp bội và cuốn phăng cái anh chàng Ngù ngờ ấy đi theo dòng sông cuộn chảy ở ngay dưới chân thác!... Dòng nước đã cuốn cái anh chàng Tiểu Ngũ ngu ngơ kia tới đâu thì hai người cán bộ Kiểm Lâm không biết được bởi sau khi bấm vội ba kiểu ảnh Tiểu Ngũ đang đứng trong dòng nước lấp loáng, thì cả hai đã chạy thật nhanh khỏi khu vực thác nước!...
*
Thực ra Tiểu Ngũ bị dòng nước cuốn đi băng băng như một khúc gỗ và bị quăng quật mỗi khi gặp phải chướng ngại vật nào đó. Thông thường, chỉ bị nước cuốn đi khoảng hai kilômét thì không ai còn có thể sống nổi. Tiểu Ngũ cũng sẽ như thế nếu không được một con sóng đánh dạt vào bờ sau khi đã trôi trong dòng nước sục sôi khoảng hai kilômét. Chỗ Tiểu Ngũ được dòng nước quăng lên bờ cát lại đúng chỗ mà người dân vùng này gọi là Bến Tiên: ngay bên bờ sông, bỗng có một chỗ lõm vào như một cái hồ nước xinh xinh, xung quanh hồ, xâm xấp bên mép nước là những tảng đá cuội to bằng tấm phản, trên mặt tảng đá nhẵn bóng, tương truyền do các Nàng Tiên đã thường xuyên đến ngồi tắm ở đó!
Lúc Tiểu Ngũ lạc vào Bến Tiên thì chỉ có một cô gái đang tắm ở đó! Cô gái là con của vợ chồng người đánh cá bên sông, tên gọi Sơn Nữ. Cô Sơn Nữ đã cứu sống anh chàng Tiểu Ngũ ra sao không ai biết nhưng khi cô Sơn Nữ đưa anh chàng Tiểu Ngũ về nhà giới thiệu với cha mẹ thì đó không còn là một anh chàng Tiểu Ngũ ngớ ngẩn nữa mà là một chàng thanh niên khôi ngôi tuấn tú, phong thái đĩnh đạc như văn nhân tài tử. Duy chỉ có điều là chàng thanh niên không còn nhớ mình là ai, từ đâu tới! Bố mẹ Sơn Nữ nói với cô: “Trí nhớ của anh ta đã bị xóa sạch khi bị quăng quật qua khúc sông lắm thác ghềnh đó! Song, thân thể anh ta còn nguyên vẹn thì quả là chuyện xưa nay hiếm! Quả là Ông Trời đã thương tình nhà ta neo người, cha mẹ đã già yếu và hiếm muộn nên ban cho người con trai này! Vậy con muốn gọi anh ta là Đại Ca hay là…” Bố mẹ Sơn Nữ chưa nói hết câu thì Sơn Nữ đã nói ngay: “Đó không phải là Đại Ca mà chàng chính là Phu quân của con! Bố mẹ chẳng phải là đã rất mong cho con có chồng hay sao?”. Thế là sau đó, chàng Tiểu Ngũ và cô Sơn Nữ làm lễ cưới, họ trở thành vợ chồng. Ngày ngày, Tiểu Ngũ ra sông đánh cá với cha vợ, khi chiều buông, họ lại trở về sống quây quần bên nhau trong ngôi nhà tranh dưới chân núi thanh bình!... Sẽ không có chuyện gì xảy ra nếu như người con trai lớn của ông Quan Gia là Công Nhất không trúng thầu dự án xây dựng Khu du lịch sinh thái, bao gồm toàn bộ vùng thượng lưu của con sông Kim Giang này - con sông mà anh chàng Tiểu Ngũ đang cùng bố vợ ngày ngày đánh cá kiếm sống!...
*
Một buổi sáng, khi cô Sơn Nữ đang thơ thẩn trong rừng để kiếm cây thuốc thì gặp một tốp người lạ, - đó chính là Đoàn khảo sát thực địa của Dự án Khu du lịch Sinh Thái Bồng Lai. Tốp người khảo sát thực địa đó gồm có hai anh em Công Nhất và Tiến Sĩ, lúc này Công Nhất là Giám đốc Khu Du lịch sinh thái Bồng Lai, còn Tiến Sĩ đang là Giám đốc một Công ty Du lịch và Khách sạn, hai anh em đang hùn vốn “làm ăn” ở vùng đất còn chưa in dấu chân người này. Cùng đi với hai anh em Công Nhất và Tiến Sĩ là ba người chuyên ngành đo đạc, bản đồ.
Vừa thoáng nhìn thấy bóng Sơn Nữ, Tiến Sĩ nói với Công Nhất: “Cứ bảo đây là vùng núi rừng hoang sơ, chưa in dấu chân người, sao em vừa nhìn thấy bóng hình mỹ nhân ẩn hiện đằng kia?”. Công Nhất ngạc nhiên nói: “Thì người của bên ngành Lâm nghiệp nói vậy mà! Không thể nào? Em có bị hoa mắt không đấy?”. Tiến Sĩ: “Mắt em rất tinh, nhất là nhìn người đẹp!”. Công Nhất: “Nếu vậy thì chỉ có thể là Tiên Nữ giáng trần hoặc Hồ Ly tinh giả dạng! Dù sao thì chúng ta cũng phải bắt cho bằng được!...Tất cả theo tôi!”. Công Nhất vừa dứt lời thì cả năm người lăm lăm súng ống trong tay, bám theo Công Nhất len lỏi trong rừng…
Lại nói về Sơn Nữ, khi thấy tốp người của Công Nhất và Tiến Sĩ ở trong rừng thì chạy nhanh về nhà. Lúc đó, cả bố mẹ Sơn Nữ và Tiểu Ngũ đều còn ở nhà, đang chuẩn bị đồ nghề để ông bố và Tiểu Ngũ đi đánh cá. Nghe Sơn Nữ nói có tốp người lạ xuất hiện trong rừng, ông bố Sơn Nữ nói: “Quả nhiên đêm qua bố nằm mộng thấy Thần Rừng nói sẽ có một bọn người tới phá khu rừng này!”. Tất cả đều giật mình hoảng sợ, nhìn nhau không biết nói gì! Một lúc sau, Sơn Nữ nói: “Vậy chúng ta phải làm gì bây giờ? Con nhất định không để cho bọn người xấu đó phá rừng!”. Ông bố trầm ngâm giây lát rồi nói: “Tất nhiên là không thể ngồi yên nhìn bọn chúng phá rừng. Nhưng trước hết phải biết đích xác xem bọn chúng định làm gì? Năm xưa, cũng có một Đoàn khảo sát của mấy người địa chất đến ngắm nghía, đo đạc này nọ nhưng rồi họ có trở lại nữa đâu? Cầu cho họ chỉ như những người địa chất kia!”. Sơn Nữ nói: “Không thể chỉ cầu như vậy được! Con phải đi xem họ là ai, định làm gì ở đây!”. Ông bố thở dài rồi nói: “Thôi được! Vậy thì hai vợ chồng con đi thám thính xem sao. Nhưng nhớ là không nên để cho họ nhìn thấy!”. Nói rồi Tiểu Ngũ và Sơn Nữ đi nhanh vào rừng, thoáng cái bóng hai người đã lẫn vào màu xanh của đại ngàn!
*
…Khi còn cách tốp người lạ khoảng hơn năm chục mét, Sơn Nữ và Tiểu Ngũ dừng lại, nấp sau một lùm cây quan sát tốp người lạ. Lúc đó đã gần trưa, khu rừng tràn ngập nắng. Tốp người chừng như đã thấm mệt mà vẫn không tìm thấy Sơn Nữ nên đã “hạ trại” nghỉ ngơi ăn uống…
Sơn Nữ và Tiểu Ngũ vẫn đang chăm chú nhìn tốp người đang ngồi trên một tấm vải bạt trải rộng, đang vừa ăn uống vừa nói cười ầm ĩ. Tất nhiên là với khoảng cách xa như thế, Sơn Nữ không thể nghe thấy họ đang nói chuyện gì. Nhưng khi thấy Tiểu Ngũ đang chăm chú nhìn tốp người kia và như là đang lắng nghe câu chuyện của họ, Sơn Nữ ngạc nhiên hỏi: “Tiểu Ngũ, anh nghe thấy họ đang nói chuyện với nhau à?”. Tiểu Ngũ nói: “Không nghe thấy, nhưng nhìn cử động của họ và nhất là nhìn môi họ mấp máy, tôi như “đọc” được những lời nói của họ!”. Sơn Nữ nghe nói vậy thì ngạc nhiên hết sức, hỏi dồn: “Vậy anh thấy họ đang nói gì, họ là ai, đang định làm gì, anh nói lại cho Sơn Nữ nghe, nhanh lên!”. Tiểu Ngũ thong thả nói: “Người mặc áo xanh, đeo kính đen (chính là Công Nhất) kia như là chỉ huy của nhóm người này. Ông ta vừa nói có lẽ không tìm thấy Mỹ Nhân đâu, ăn uống xong thì rút quân kẻo bị lạc trong rừng thì khốn! Còn người mặc áo đỏ, đeo kính trắng (chính là Tiến Sĩ) thì nói, phải tìm một lúc nữa, để mất dấu Mỹ Nhân thì tiếc quá! Ba người mặc quần áo đồng phục kiểm lâm thì chỉ lo ăn uống, không thấy nói gì!...”. Sơn Nữ nói: “Đúng là lúc nãy người đeo kính trắng kia đã thoáng nhìn thấy em! Thì ra họ đang đuổi theo dấu vết của em!...Họ đang nói gì nữa, anh nói lại đi!”. Tiểu Ngũ tiếp tục “thông dịch”: “Hai người áo xanh kính đen và áo đỏ kính trắng nói với nhau nhiều chuyện lắm, còn chuyện liên quan tới khu rừng này thì “tóm tắt” lại là: họ sẽ làm một con đường lớn tới Thác nước, bên cạnh thác nước sẽ xây một khu nhà nghỉ dưỡng và khách sạn, toàn bộ khu rừng này từ thác nước mở rộng ra tới mười kilômét đều thuộc Khu du lịch sinh thái do Công ty Bồng Lai quản lý!...”
Khi nghe Tiểu Ngũ nói đến chỗ toàn bộ khu rừng thuộc thượng nguồn con sông Kim Giang này sẽ nằm trong tay Công ty Bồng Lai, Sơn Nữ tưởng chừng như muốn ngất xỉu!...
*
Sơn Nữ và Tiểu Ngũ càng “nghe lén từ xa” câu chuyện của hai anh em Công Nhất và Tiến Sĩ, càng hết chịu nổi và họ đã chủ động xuất đầu lộ diện, hy vọng sẽ ngăn cản mọi ý đồ của Công ty Bồng Lai đối với khu rừng này. Song, khi Tiểu Ngũ gặp hai người anh của mình là Công Nhất và Tiến Sĩ thì sự việc lại xảy ra ngoài sự tưởng tượng của họ: cả Công Nhất và Tiến Sĩ đều mừng rú khi nhìn thấy cậu em út Tiểu Ngũ không những còn lành lặn nguyên vẹn mà dường như đỏ da thắm thịt hơn trước khi bị “lạc trong rừng” rất nhiều, ngay cả miếng ngọc bội đeo ở cổ Tiểu Ngũ có khắc hai chữ Tiểu Ngũ cũng còn nguyên. Tại sao họ lại vui mừng như vậy, bởi họ không hề biết “Kế hoạch Sự tích chim Đa Đa” của hai vợ chồng ông Quan Gia đối với Tiểu Ngũ!...
Khi Công Nhất, Tiến Sĩ, Tiểu Ngũ và Sơn Nữ về tới cổng nhà ông Quan Gia thì thấy trong sân rất đông khách. Hỏi ra mới biết, có một vị “Quan Khâm sai” từ Thủ đô đem quyết định bổ nhiệm chức vụ Chủ tịch Tỉnh tới cho ông Quan Gia, và có rất nhiều quan chức, Đại gia trong Tỉnh do “thính tai” và “nhạy bén chính sự” đã ngay lập tức tới chúc mừng!... Khi mấy anh em vừa bước tới khoảng giữa sân thì từ cửa ra vào căn nhà, cả hai vợ chồng ông Quan Gia đã nhìn thấy mấy anh em hớn hở đi vào. Nhưng, khi vừa nhìn thấy Tiểu Ngũ thì cả hai vợ chồng ông Quan Gia cùng giật mình kinh hoàng và nhìn nhau và cùng nói: “Thằng Tiểu Ngũ nó đã hóa thành chim Đa Đa rồi cơ mà?!” Không ai nghe thấy câu nói đó của vợ chồng ông Quan Gia, trừ Tiểu Ngũ!... Khi nghe thấy bố, mẹ mình nói như vậy, Tiểu Ngũ đã hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện và cậu dừng lại giữa sân, kéo Sơn Nữ lại gần và nói: “Anh phải trở về rừng để hóa thành con chim Đa Đa!... Anh không muốn làm bố, mẹ phải phiền lòng!”. Nói rồi, Tiểu Ngũ cầm tay Sơn Nữ đi nhanh ra khỏi cái sân đang đông nghẹt người với những lời chúc tụng ồn ào!...
Sài Gòn, 2005-2009
Truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch
http://xeb.xanga.com/11788313c643129500762/b20653381.jpgchim Đa Đa http://thugian24h.net/wp-content/uploads/2011/04/tam-tien.jpg
tắm tiên...

PBVH - Một cơ chế đặc thù... - Đỗ Ngọc Thạch

http://phongdiep.net/images/chandung/thu%20vien/do%20ngoc%20thach.jpg

Lý luận phê bình văn học

Đỗ Ngọc Thạch
Phê bình văn học - Một cơ chế đặc thù của văn hóa
Tất cả những biểu hiện của hoạt động thẩm mỹ của con người mà chúng ta
quen nói nôm na là “đời sống văn hóa- văn nghệ”  được bộ môn lý luận
văn hóa  xác định trong một cấu trúc tổng thể theo một hệ thống với
khái niệm văn hóa nghệ thuật – là một hệ thống, một thể thống nhất khép
kín. Trong  hệ thống văn hóa nghệ thuật đó, có nhiều hệ thống phụ, hệ
thông con, thể hiện cơ chế hoạt động của những lĩnh vực khác nhau của
đời sống thẩm mỹ. Một trong những hệ thống phụ đó của văn hóa nghệ
thuật là bộ môn phê bình nghệ thuật.  Các hệ thống phụ trong cấu trúc của văn hóa nghệ thuật đều vận hành
theo những quy luật đặc thù, có cơ chế hoạt  động riêng nhưng đều có
mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau. Nếu chỉ nhìn vào qui luật đặc thù thì
dễ dẫn đến những quan niệm cực đoan, phiến diện. Nếu bị những biểu hiện
của mối quan hệ qua lại chồng chéo che lấp thì sẽ không nhìn rõ đặc
trưng loại biệt của từng đối tượng quan sát. Vì thế, dưới đây chúng ta
sẽ quan sát cơ chế hoạt động của một quá trình hoạt động nghệ thuật,
trong đó sẽ làm nổi rõ bộ môn phê bình nảy sinh từ đâu, nó có chức năng
gì, tác động như thế nào vào quá trình này?
1.   Hình thái đầu tiên, công đoạn đầu tiên của một quá trình hoạt đông
nghệ thuật là sản xuất nghệ thuật (theo chữ dùng của C.Mac). Trong cơ
chế sản xuất nghệ thuật hiện đại , bên cạnh “nhân vật chính” là nhà
sáng tác còn có một “công cụ sản xuất” rất quan trọng là nhà biên tập.
Nhiệm vụ lớn nhất của họ là thẩm định, đánh giá trước nhất tác phẩm
nghệ thuật, giúp nhà sáng tác hoàn chỉnh tác phẩm  trước khi nó được ra
mắt công chúng với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Trước
đây, người ta ít chú ý đến bàn tay của nhà biên tập, dấu ấn lao động
nghệ thuật của họ trong việc cho ra đời một tác phẩm nghệ thuật. Phải
nói rằng quá trình làm việc giữa nhà biên tập và nhà sáng tác diễn ra
khá công phu và  đó chính là một biểu hiện của hoạt động phê bình nghệ
thuật. Hoạt động phê bình ở “khâu yếu” này như thế nào, đến nay vẫn còn
là “chuyện hậu trường”,chưa được chú ý nghiên cứu. Tuy vậy, cũng có thể
nhận xét sơ bộ rằng, hoạt động phê bình đã có nhu cầu nảy sinh, nhu cầu
tồn tại ngay từ khi tác phẩm nghệ thuật chuẩn bị ra đời, thậm chí nó
còn thai nghén trong ý đồ sáng tác của nhà sáng tác. ở khía cạnh khác
có thể nói, đây chính  là cơ sở nảy sinh của kiểu phê bình tình cảm -
cá tính sáng tạo, chủ yếu dựa vào công việc bếp núc của nhà sáng tác mà
nhà phê bình (hình thành từ trong đội ngũ nhà biên tập) nắm bắt tường
tận. Những nhà phê bình này thiên về lý giải, phân tích tác phẩm trong
quá trình “mang nặng đẻ đau” của nhà sáng tác, chú ý nhiều đến cuộc đời
của nhà sáng tác và cố tìm mối quan hệ giữa tác phẩm và chính cuộc đời
của nhà sáng tác. Kiểu phê bình này thường là tạo ra được những chân
dung sinh động về nhà sáng tác hơn là sự “mổ xẻ” lạnh lùng  và khách
quan tác phẩm của nhà sáng tác.
2. Tác phẩm nghệ thuật ra đời, nó tồn tại trong đời sống thẩm mỹ với tư
cách là một vật thể mang giá trị nghệ thuật. Giá trị này được quyết
định bởi  nội dung tinh thần của nó và   phẩm chất của hình thức mang
giá trị đó. Đồng thời nó cũng được qui định bởi tính chất của những nhu
cầu xã hội và bởi  mức độ đáp ứng của tác phẩm đối với những nhu cầu
ấy. Nói cách khác, giá trị nghệ thuật này tùy thuộc vào lý tưởng thẩm
mỹ của thời đại (hệ tư tưởng chính thống của hoàn cảnh lịch sử - xã hội
mà tác phẩm nghệ thuật ra đời). Vì thế, nó mang tính cụ thể - lịch sử
và đương nhiên biến đổi theo biến động lịch sử - xã hội. Thước đo giá
trị của tác phẩm nghệ thuật này nằm trong lý tưởng thẩm mỹ của thời
đại. Thước đo này là “công cụ thẩm mỹ” đặc biệt nhằm đánh giá giá trị
tác phẩm nghệ thuật. Như vậy là, từ trong bản thân tính chất của tác
phẩm nghệ thuật đã nảy sinh nhu cầu tất yếu đánh giá giá trị tác phẩm
nghệ thuật: đó là hoạt động  phê bình nghệ thuật. Như thế, nhà phê bình
nghệ thuật chính là “công cụ thẩm mỹ” đặc biệt để một lần nữa xác định
giá trị tác phẩm nghệ thuật khi nó tồn tại trong đời sống thẩm mỹ với
tư cách là một vật thể mang giá trị nghệ thuật. Giá trị tự thân của tác
phẩm nghệ thuật và sự đánh giá của nhà phê bình có trùng khớp hay
không, đó là một công việc lớn cùa phê bình nghệ thuật.
Sự đánh giá này của hoạt động phê bình nghệ thuât mang tính chất tổng
quát và nó thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, nhà phê bình nhân
danh người phát ngôn cho tư tưởng  thẩm mỹ của thời đại. Vì thế người
ta thương nói đó là sự đánh giá có tính chất triết học, hoăc  triết mỹ.
Đây chính là cơ sở nảy sinh kiểu phê bình triết hoc, có từ lâu với cách
gọi “Phê bình triêt học truyền thống” (hoặc còn gọi phê bình là “mỹ học
vận động”) do V.G.Biêlinxki sáng lập ở Nga. Kiểu phê bình này thường
nhìn tác phẩm dưới con mắt triết mỹ,chú ý nhiều tới việc  tìm ra sự phù
hợp giữa tác phẩm và  thời đại với sự tồn tại của giá trị tư tưởng và
giá trị thẩm mỹ (thực ra không thể tách bạch ra như thế!). Và như trên
đã nói, giá trị này tùy thuộc vào lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, cho
nên nó chỉ chấp nhận những tác phẩm nào “hợp gu”, hợp “khẩu vị” với nó
và đương nhiên, nó gạt ra ngoài những tác phẩm nào vượt quá “khuôn
phép” mà nó – cái lý tưởng thẩm mỹ của thời đại – ngầm qui ước! Vì thế,
khi thời đại có biến đổi, các tác phẩm có sự “đảo lộn” giá trị vì có sự
“đảo lộn các thang giá trị”!...
Như C. Mác nói  “Tác phẩm nghệ thuật  - và mọi sản phẩm khác cũng thế -
đều tạo ra một thứ công chúng sính nghệ thuật  và có khả năng thưởng
thức cái đẹp”. (C. Mác: Về văn học và nghệ thuật -  Nxb Sự thật. H.1997
,tr.96). Công chúng nghệ thuật là nhóm người có trình độ cảm thụ những
tác phẩm nghệ thuật. Việc hình thành công chúng nghệ thuật, từ tự phát
đến tự giác, từ giáo dục nghệ thuật đến giáo dục thẩm mỹ. ở một nền
văn  hóa nghệ thuật phát triển cao, việc giáo dục nghệ thuật cũng như
giáo dục thẩm mỹ (giáo dục nghệ thuật là một bộ phận hợp thành của hệ
thống giáo dục thẩm mỹ) được chú trọng thì công chúng nghệ thuật càng
phát triển, nâng cao. Công chúng ấy có nhạy cảm về nghệ thuật, am hiểu
nghệ thuật, tức là có kiến thức về nghệ thuật mới có khả năng thưởng
thức nghệ thuật, họ tiếp nhận được giá trị của tác phẩm nghệ thuật. Mà
giá trị của tác phẩm nghệ thuật luôn luôn biến đổi và đa nghĩa, lại
được “mã hóa” bằng cấu trúc nghệ thuật phức tạp, ngôn ngữ nghệ thuật
đặc thù, v.v… Việc tiếp nhận giá trị của tác phẩm nghệ thuật đối với
công chúng không dễ dàng gì. Tác phẩm nghệ thuật như là có “lớp vỏ” đặc
biệt bao bọc . Vì thế,có thể nói, chính nhu cầu cảm thụ nghệ thuật của
công chúng đã làm nảy sinh nhu cầu giáo dục nghệ thuật một cách chủ
động cho công chúng, nhu cầu  “giải mã” tác phẩm để cho công chúng tiếp
nhận hết giá trị của tác phẩm. Điều này nảy sinh tất yếu bộ môn phê
bình nghệ thuật: gồm những nhà phê bình có trình độ, kiến thức nghệ
thuật cao làm “phiên dịch”, “môi giới” giữa  công chúng với tác phẩm.
Đây cũng chính là cơ sở của kiểu phê bình chủ yếu dựa vào văn bản cấu
trúc của tác phẩm nghệ thuật. Kiểu phê bình này tập trung  vào việc
phát hiện những cái “ẩn tàng” , “ẩn ngôn” , “ý tại ngôn ngoại” trong
những cấu trúc “ đa tầng”, “đa nghĩa”, “ đa thanh” của tác phẩm nghệ
thuật.
3.
Mặt khác, xét ở giác độ tâm lý tiếp nhận, hoạt động cảm thụ của công
chúng đồng thời xảy ra với hoạt động đánh giá giá trị tác phẩm. Nói
cách khác, đánh giá giá  trị tác phẩm nghệ thuật là một nhu cầu tất yếu
của cảm thụ nghệ thuật. Nhu cầu đánh giá này không chỉ dừng lại ở sự
phản ứng trực tiếp (bản năng của trạng thái xúc cảm thẩm mỹ) của công
chúng nghệ thuật mà lan truyền, tích tụ thành  những “làn sóng dư luận
công chúng”. Làn sóng này tồn tại và phát triển trong đời sống thẩm mỹ,
đến độ nào đó sẽ nảy sinh thành nhu cầu phát ngôn thành những quan điểm
thẩm mỹ. Điều này nảy sinh  tất yếu bộ môn phê bình nghệ thuật mà nhà
phê bình là những đại biểu ưu  tú nhất của công chúng nghệ thuật .
Việc chọn lọc những người tiếp nhận nghệ thuật có tài năng nhất
(theo cách nói của Xtanixlapxki) - những người vừa có một cảm quan nghệ thuật
phát triển, tinh tế, được tôi luyện hẳn hoi lại vừa có khả năng biểu đạt
bằng ngôn ngữ các ấn tượng và thể nghiệm nghệ thuật của mình. Những
người này sẽ trở thành những nhà phê bình chuyên nghiệp . Chính vì
thoát thai từ bộ phận ưu tú nhất của công chúng , những nhà phê bình
này bao giờ cũng coi trọng hiệu quả của sự tác động thẩm mỹ của tác
phẩm nghệ thuật vào công chúng, coi trọng mối quan hệ giữa tác phẩm và
công chúng, đương nhiên không thể không có dấu ấn cá nhân của nhà phê
bình. Đây chính là cơ sở của kiểu phê bình xã hội học: tình trạng tiếp
nhận tác phẩm của công chúng thu hút sự chú ý của nhà phê bình. “Công
chúng là vị quan tòa thông minh nhất” – câu nói nổi tiếng này là chỗ
dựa vững chắc cho kiểu  phê bình xã hội học này. Lâu nay, người ta
thường dè bỉu kiểu phê bình là “xã hội học dung tục” bởi bộ môn xã hội
học nghệ thuật chưa phát triển, nhà phê bình chưa thực sự là đại diện
của bộ phận công chúng ưu tú…
*
Đến đây, ta có thể hình dung được rằng: trong cơ chế vận hành của một
quá trình hoạt động nghệ thuật gồm 3 bộ phận: sáng tạo nghệ thuật, tác
phẩm nghệ thuật và cảm thụ nghệ thuật – ba hệ thống phụ của cấu trúc
một quá trình hoạt động nghệ thuật – đều có những cơ sở nảy sinh, những
nhu cầu tất yếu của sự có mặt của bộ môn phê bình nghệ thuật. Bộ môn
phê bình nghệ thuật nảy sinh từ trong quá trình vận hành của ba hệ
thống phụ đó và ngay lập tức quay  trở lại tác động vào quá trình vận
hành  ấy. Như vậy, có thể nói: Phê bình nghệ thuật là hệ thống phụ thứ
tư của hệ thống văn hóa nghệ thuật – một thể thống nhất khép kín.
Điều cần nhấn mạnh ở đây là: phê bình nghệ thuật là một cơ chế đặc thù
của văn hóa, nó là một bộ phận thiết yếu thuộc hệ thống văn hóa nghệ
thuật. Nó có chức năng tạo nên cái “bình thông nhau”, cái cầu nối giữa
cảm thụ nghệ thuật và sản xuất nghệ thuật, nó giải quyết nhiệm vụ xác
định giá trị của tác phẩm nghệ thuật và do đó nó điều chỉnh định hướng
tư tưởng và thẩm mỹ của sản xuất nghệ thuật. Đồng thời nó có khả năng
tác động trở lại vào bản thân việc cảm thụ nghệ thuật, vào ý thức thẩm
mỹ và cảm quan nghệ thuật của công chúng. Điều này qui định tính biện
chứng của quan hệ qua lại giữa nhà phê bình và công chúng nghệ thuật.
Chức  năng vừa nêu của phê bình nghệ thuật, về nguyên tắc nó không thể
lẫn lộn với các bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về nghệ thuật như mỹ
học, lý luận nghệ thuật, xã hội học nghệ thuật, v.v…. Các bộ môn khoa
học về nghệ thuật này không nảy sinh từ nhu cầu nội tại tất yếu của một
quá trình hoat động nghệ thuật mà chúng chỉ quan sát, nhìn vào nền văn
hóa này từ bên ngoài, từ thế giới của các khoa học. Do đó, toàn bộ nền
văn hóa nghệ thuật, trong đó có cả phê bình nghệ thuật, đều nằm ở trong
tầm bao quát của các bộ môn khoa học về nghệ thuật vừa nêu với cái nhìn
khách quan lạnh lùng của tư duy khoa học. Vì mối quan hệ giữa phê bình
nghệ thuật và các khoa học nghiên cứu về nghệ thuật có nhiều mối quan
hệ mật thiết cho nên lâu nay người ta vẫn xếp phê bình nghệ thuật   vào
khu vực các bộ môn khoa học về nghệ thuật như lý luận nghệ thuật,
nghiên cứu nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật,v.v… Thậm chí người ta đã đặt
câu hỏi: “Phê bình là khoa học hay nghệ thuật?”, song sự trả lời tính
nước đôi: Phê bình là bộ môn có hai quốc tịch, vừa là khoa học vừa là
nghệ thuật !...đã khiến cho câu chuyện chưa thể có hồi kết !...
*
Qua việc trình bày cơ sở nảy sinh và chức năng của bộ môn phê bình nghệ
thuật nói trên, chúng ta thấy người làm phê bình nghệ thuật phải đồng
thời đáp ứng được tất cả những yêu cầu đã nêu với những phẩm chất ,
trình độ,kiến thức, cảm thụ nghệ thuật, v.v… không thể ở mức bình
thường!... Chính vì vậy mà Lưu Hiệp, nhà phê bình trác việt của Trung
hoa cổ đại, đã nói về phê bình nghệ thuật rằng: “Tri  âm  thực là khó
thay. Cái âm thực là khó biết, người biết thực là khó gặp. Gặp được
người tri âm ngàn năm mới có một lần” (Văn tâm điêu long). /.
Đỗ Ngọc  Thạch

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Đứa Bé Tật Nguyền và nàng tiên áo trắng - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Đứa bé tật nguyền và nàng tiên áo trắng

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Đêm nay
Những đôi nam nữ gặp gỡ
Ngày mai
Ra đời những đứa bé mồ côi !”
( B. Brest )
Đứa bé tật nguyền và nàng tiên áo trắng
Nó có tên tuổi, có bố mẹ như bất kỳ đứa trẻ nào, nhưng bây giờ người ta chẳng cần biết gốc gác, lai lịch của nó như thế nào mà chỉ cần biết nó là thằng Khoèo, bởi nó khoèo rõ ràng:  cái đầu to với khuôn mặt méo  mó dị dạng lúc thì như văng lên trời, lúc lại như muốn rơi bịch  xuống đất… Một tay, một chân  nó cũng khoèo, vừa dài loằng ngoằng vừa co quắp không theo một trình tự lớp lang nào, khiến cho lúc nó di chuyển, cả thân hình nó xiêu vẹo, ngất ngư như muốn đổ nhào. Nhưng không, nó không bao giờ đổ nhào, té ngã bởi phân nửa thân hình còn lại phía bên trái của nó – phía bên có trái tim, rất rắn chắc, to khỏe không thua kém bất cứ vận động viên điền kinh cấp kiện tướng nào. Những khi cần đứng lại làm cái gì đó, nó đứng vững vàng bằng chân trái, để cho cái chân phải và cánh tay phải cứ dao động  hỗn loạn, không theo nhịp phách nào cả… Nó hành nghề bán sách, báo rong trong cái Bệnh viện Nhi đồng này từ bao giờ và “thu nhập’ của nó ra sao, ai hơi đâu mà quan tâm ?
Cho đến bây giờ, có lẽ chỉ có  hai, ba người biết nó cặn kẽ. Người biết nó rõ hơn cả là bà Lý, làm hộ lý ở bệnh viện này từ thuở sơ khai.Bà bảo, lúc nó nhập viện là một đứa bé sáu tuổi rất dễ thương. Nó bị viêm não, khi đưa đến bệnh viện thì đã hôn mê. Đưa nó vào cấp cứu xong, hỏi đến thân nhân đứa bé thì chẳng có ai!? Thì ra nó đã bị bố mẹ bỏ mặc ! Người ta tưởng nó chết nhưng nó đã không chết. Người ta  liền giao nó cho bà Lý chăm sóc ! Người thứ hai cũng được giao nhiệm vụ chăm sóc nó là cô y tá tên Thơ. Còn trẻ tuổi, mới vào nghề…
Những đứa trẻ bị bỏ rơi trong bệnh viện như trường hợp thằng Khoèo, sau khi điều trị khỏi bệnh, người ta đưa chúng tới những trại mồ côi, Cô nhi viện…. Hôm bà Lý bế thằng Khoèo đi, người ta chưa nhận. Trong khi đó, nó bám lấy bà Ly rất chặt, đôi mắt ngây thơ, non dại của nó nhìn bà như van lơn cầu khẩn rồi đầm đìa nước mắt. Hồi lâu, nó mới nói được rằng:”Má…Má đừng bỏ con !…”. Nhìn nó, bà Lý cũng rớt nước mắt. Bà rất thương nó, nhưng bà chuẩn bị cưới chồng, làm sao nhà chồng chịu khi bà đưa thêm thằng bé tật nguyền này về nhà? Cô y tá Thơ, lần đầu tiên được chứng kiến cảnh này đã không ngăn được nước mắt và nói nhanh:”Chị cứ đưa nó về , lúc nào chị cưới thì em sẽ nuôi nó”. Bà Lý nhìn Thơ cũng lại  muốn khóc mà nói:”Em mới vào nghề, còn trẻ  nhưng cũng phải lo dần chuyện chồng con đi chứ , để “lỡ thì”  như chị không được đâu!…”. Dùng dằng mãi, cuối cùng  bà Lý và Thơ đưa nó về cư xá. Thôi, trời sinh voi trời sinh cỏ, cứ đưa nó về đã, tính  sau, chẳng lẽ lại quăng nó ra ngoài đường…
Cũng vì chuyện nuôi thằng Khoèo mà bà Lý chút  xíu nữa thì không lấy được chồng. Đó là cái tối hôm ấy, Thơ phải trực ca đêm, thằng Khoèo đang bị cảm sốt. Bà Lý cho nó uống thuốc.
Vừa uống xong một viên thuốc, nó ói ra  cả người bà, quần áo dính dơ hết. Đúng lúc đó, người chồng sắp cưới  của bà cầm hai cái vé đi xem cải lương tới. Nhìn thấy cảnh tượng đó, người đàn ông này  đã đi luôn và không bao giờ trở lại. Người chồng sau đó của bà Lý là một người bạn của người đàn ông kia. Họ sống với nhau rất hạnh phúc và còn muốn đưa thằng  Khoèo về nuôi, nhưng thằng Khoèo không chịu, nó đòi ở với cô y tá Thơ. Bà Lý nghĩ, không biết nó có nghĩ tới lúc cô Thơ cũng phải đi lấy chồng như bà hay không?

Thơ là con gái thứ tư trong một gia đình buôn bán khá giả. Nhưng từ ngày bố mẹ Thơ xây nhà bốn lầu kinh doanh “Nhà hàng máy lạnh” thì Thơ muốn bỏ cái  “tổ lạnh” ấy mà đi thật xa để khỏi phải hàng ngày chứng kiến những cảnh ăn chơi trụy lạc của đám thực khách VIP ấy. Thơ đã bỏ nhà đi thật khi có một ông khách VIP định “dê” cô. Thơ đến làm phụ việc cho một phòng mạch tư của một ông bác sĩ già tốt bụng.Ông đã cho Thơ tá túc và còn cho Thơ  theo học một lớp y tá. Sau đó, khi ông không muốn mở phòng mạch nữa (con cháu ông không cho ông làm việc !) thì đã xin cho Thơ vào làm việc ở cái bệnh viện Nhi đồng này. Khi ông bác sĩ  chết, Thơ xin vào ở hẳn trong cư xá của bệnh viện, ở chung phòng với bà Lý… Khi xảy ra chuyện thằng Khoèo, Thơ vừa mười tám tuổi. Thời gian thoi đưa, Thơ nuôi thằng Khoèo đã được  một năm…
Bà Lý tuy đã về nhà chồng nhưng vẫn thường xuyên tới thăm thằng Khoèo và hàng tuần, hàng tháng đều có quà,  hoặc có tiền cho thằng Khoèo. Bà  Lý vẫn làm việc ở bệnh viện Nhi đồng với Thơ nên việc Thơ nhận nuôi thằng Khoèo không phải là đơn độc. Hơn nữa, số tiền lương và phụ cấp của Thơ cũng đủ cho hai người sống. Tuy thế, bà Lý vẫn lo, nếu Thơ và thằng Khoèo ngã bệnh đột xuất thì lấy  gì mà chi tiêu? Bà Lý còn lo xa cho Thơ, rồi cũng đến cái ngày Thơ phải đi lấy chồng, có gia đình riêng, không biết sẽ như thế nào ? Lo là lo thế thôi, bà Lý cũng không biết phải làm gì?
Những lúc rảnh rỗi, bà Lý thường đến chơi với thằng Khoèo, hi vọng tìm ra một lối thoát tốt đẹp  cho tương lai của nó, nhưng tìm mãi vẫn chưa ra ! Nhiều lúc, hàng giờ nhìn nó hì hụi ngồi vẽ theo những bức vẽ trong sách truyện tranh, bà thấy rối cả ruột !… Một hôm, chồng bà Lý cùng đến chơi với thằng Khoèo. Vừa nhìn thấy nó ngồi vẽ say sưa, ông ta tròn xoe mắt và la lên:
-Trời đất !…
-Cái gì ? Thế nào? – Cả bà Lý và Thơ cùng hỏi.
-Thằng nhỏ này có hoa tay lắm ! – Ông chồng bà  Lý chưa hết ngạc  nhiên. Bà Lý hỏi :
-Vẽ loằng  ngoằng thế này mà ông bảo là tài hoa à?
-Bà chẳng biết cái gì cả ! – ông chồng bà Lý cao giọng – Các bà có báu vật trong tay mà tưởng  là đất cát. Nó sẽ trở thành một họa sĩ lừng  danh thiên hạ!…
-?!
-Bây giờ phải cho nó đi học ở trường Mỹ thuật. Đến đấy, tài năng của nó sẽ có cơ hội phát triển ! Nó sẽ thành một họa sỹ  lừng danh ! – ông chồng bà Lý vẫn chưa hết ngạc nhiên !
-Đi học ? Ờ, cho nó đi học, biết đâu…- bà Lý tư lự – Nhưng lấy đâu ra tiền để cho nó đi học ? Hiện nay, chỉ đủ sống đã là may mắn lắm rồi !
-  Tất cả đều im lặng đến  hai, ba phút. Thơ phá tan sự im lặng :
-Hay là  em đi làm thêm…
-Làm gì? – bà Lý băn khoăn – Vốn liếng chẳng có, tài ba thì không, chỉ có đi làm thuê làm mướn ! Mà sức vóc cô thì làm được gì ngoài cái việc tiếp viên nhà hàng. Mà nhà hàng thì…
Vừa nói tới đó, bà Lý ngừng bặt, bà biết đã lỡ nói đến mấy chữ  “nhà hàng” là đụng đến nỗi đau âm ỉ của Thơ.
-   Em sẽ đi làm phụ cho mấy phòng mạch… – Thơ nói :
- Cũng được đấy, nhưng thu nhập chẳng đáng là bao. Rủi gặp phải mấy cha bác sĩ có máu dê  thì tàn đời…- Bà Lý trút ra một tiếng thở dài, trong đầu bà vụt hiện lại cái thời trẻ, bà cũng làm phụ việc cho một phòng mạch, cha bác sĩ nài ép bà quá, bà không cưỡng được. Rồi chuyện cũng đến tai bà vợ ông bác sĩ, bà bị đánh ghen một trận hút chết…!
Nhưng Thơ đâu biết chuyện đó của bà Lý, cô vẫn còn trẻ tuổi quá chưa thể hình dung hết biết bao cạm bẫy trong cuộc đời oan nghiệt này. Thơ nói :
-  Em đã làm cái việc ấy rồi. Cái ông bác sĩ già ngày trước cho em làm ấy rất tốt. Mình siêng năng, chịu khó sẽ gặp người tốt giúp đỡ mình .
-  Thế cô định làm ở đâu chưa ? – Bà Lý hỏi.
- Bác sĩ  Mùi, phó chủ nhiệm khoa có nói với em từ lâu, nhưng em nói mắc bận trông coi thằng Khoèo nên không đi làm. Bây giờ nói lại chắc bác sĩ  Mùi  không từ chối…
Bà Lý giật mình nghĩ thầm : “Trời đất ơi, con nhỏ này ngây thơ thiệt tình. Ông bác sĩ này nổi tiếng máu dê mà nó chưa biết sao ? Mỗi khi ông ta nhìn nó như muốn ăn tươi nuốt sống. Ông ta muốn “ăn” nó dài lâu nên mới bày đặt  ra chuyện  kêu nó đến làm phụ ở phòng mạch chứ gì ?. Tuy thế, bà Lý chỉ nén một tiếng thở dài trong bụng bởi bà lại nghĩ  :  Chuyện người đời có ngàn lẻ một cái éo le, phức tạp, mình xía vô sao được ? Mà biết đâu, con bé Thơ này nó có tướng quý nhân phò trợ, nó lại được ông ta giúp đỡ thiệt tình thì sao ?
Thế là ngay ngày hôm sau, tối tối, từ bốn giờ chiều đến 8 giờ tối, Thơ đến làm việc ở phòng mạch của bác sĩ  Mùi.
Được một tuần thì Thơ nói với bà Lý :
- Chị Lý à, chị xem có việc gì ở đâu kiếm giùm em, em không làm ở  phòng mạch  của bác sĩ  Mùi  nữa đâu…
Bà Lý giật mình thầm nghĩ đến cái chuyện “kia” sẽ xảy ra như bà đã lo ngại, bà gạn hỏi mãi, Thơ mới nói : “Ngay hôm đầu tiên, lúc nào ông ta cũng tìm cớ đứng kề em, đụng chạm như là vô tình vào người em, và em khó chịu nhất là cứ có cảm giác như ông ta luôn thổi vào tai, vào gáy em khi đứng ở đằng sau. Ngày thứ hai, thứ ba cũng thế, mà khách thì vắng lắm. Đến ngày thứ tư, ông ta ôm chặt lấy em mà hôn, hôn cả ở dưới bụng…Em sợ quá, chống cự quyết liệt và tính bỏ về ngay, nhưng ông ta xin lỗi ngon ngọt mãi. Được ngày thứ năm không xảy ra chuyện gì, nhưng đến  ngày thứ sáu thì ông ta nhân lúc em đang thay đồ, ra  treo biển nghỉ  khám bệnh rồi vào, bất thần bế em lên rồi đè nghiến xuống. Ông ta khỏe quá, em giãy giụa được một lúc thì mệt rũ ra, tưởng rằng đã “bị”  với ông ta,  nhưng lúc đó thì ở ngoài cửa có ai đập rầm rầm rồi cánh cửa bật tung và một người đã ào vào. Người đó chính là  thằng  Khoèo ! Lúc ấy, nhìn nó sao mà hung dữ như một con quỷ. Tay nó giơ cao cái búa như ông Thiên Lôi vung lưỡi tầm sét. Nó đập búa vào đỉnh đầu ông bác sĩ Mùi khiến ông ta ngất xỉu !…”.
Nghe xong chuyện, bà Lý thở dài, nói :
- Thôi, đừng đi làm nữa…May mà thằng Khoèo mới có bảy tuổi, sức nó còn yếu, nếu không đã xảy ra án mạng rồi. Chuyện đi học vẽ của nó, để khi nào có điều kiện hãy tính. Chị chỉ ngại sau chuyện này, ông Mùi sẽ làm khó dễ cho em, ông ta là sếp mà…
Cái lo ngại của bà Lý đã thành sự thật. Ngay hôm sau, ông Mùi gặp riêng bà Lý (chứ không phải là gặp Thơ) và nhờ bà nói lại cho Thơ biết rằng : Nếu Thơ chấp nhận làm “bồ” của ông ta, Thơ sẽ được ưu đãi trong mọi chuyện, bằng không, Thơ sẽ bị đuổi việc, cả Thơ và thằng Khoèo sẽ không được ở trong cư xá nữa. Ông Mùi vừa nài vừa ép bà Lý làm  “thuyết khách ái tình” vì ông nghĩ rằng một con người ít học, suốt đời vất vả và sống nhẫn nại, thậm chí biết nhẫn nhục như bà Lý sẽ biết cách thuyết phục Thơ đi vào  “con đường sung sướng” mà ông đã vẽ ra. Nhưng ông Mùi đâu có biết rằng, bằng sự từng trải của mình, bà Lý đã dùng kế “hoãn binh” để Thơ và thằng Khoèo được tạm thời yên ổn, rồi sẽ tính sau, đại loại Thơ sẽ xin chuyển sang bệnh viện khác. Ông Mùi chấp nhận cái thời hạn một năm để bà Lý thuyết phục Thơ nhưng hàng ngày ngọn lửa  “ham muốn”  trong lòng ông vẫn luôn bùng cháy !…
Không ai biết thằng Khoèo nghĩ gì sau “sự kiện” ấy, nó chỉ nói ngắn gọn với bà Lý và Thơ rằng, Thơ không phải đi làm thêm nữa, mà nó sẽ đi lấy báo vào trong bệnh viện bán, khi nào có đủ tiền mới đi học. Trước mắt, nó nhờ Thơ mua sách về cho nó tự học. Thế là từ đó, thằng Khoèo ôm chồng báo đi khắp các phòng bệnh. Không hiểu những người đến chăm sóc bệnh nhân có nhu cầu đọc báo cao hay thằng Khoèo “mát tay” mà nó bán rất nhanh hết. Ngày nào cũng vậy, nó ra cái đại lý báo lớn ở bên cạnh bệnh viện lấy báo lúc sáu giờ  rưỡi thì chỉ đến chín, mười giờ nó đã bán hết. Sau nó lại bán thêm sách truyện nữa, cả bà Lý và Thơ đều ngạc nhiên hết sức khi  tiền bán sách báo của nó mỗi ngày tới gần năm mươi ngàn đồng. Thu nhập của nó một tháng bằng ba lần lương của Thơ. Trời đất ơi ! Thơ thường giật mình kêu lên mỗi khi nó đưa tiền cho Thơ, như thế là nó nuôi được Thơ chớ đâu phải Thơ  nuôi nó ! Thơ  cất riêng số tiền của thằng Khoèo không dùng đến, cô hy vọng đến cái ngày nó đi thi vào trường Mỹ thuật…
Những buổi chiều, thằng Khoèo thường ngồi học một mình. Cuốn sách nào Thơ mua về cho nó, nó cũng nghiến ngấu đọc hết và nó chỉ đọc một lượt là nhớ hết. Thơ phải mua sẵn cả sách các lớp hai, lớp ba, lớp bốn nó cũng đọc hết như là đọc sách truyện vậy. Nếu không có cái việc nó ngồi hàng giờ hí hoáy vẽ những bức tranh mà Thơ  không hiểu được là nó vẽ gì thì có lẽ nó đọc hết toàn bộ sách giáo khoa phổ thông chỉ trong vài tháng !
Một buổi sáng, Thơ nghỉ trực ở nhà. Khi cô giũ chiếu lau giường cho thằng Khoèo, cô làm rớt cái bìa kẹp giấy của nó xuống đất. Những bức vẽ rơi lả tả ra sàn nhà. Đó là những hình khối với những  màu sắc kỳ dị mà  nhìn vào Thơ không hiểu là cái gì. Trong cái kẹp, còn lại là một cái bao nilon cứng nhìn rõ một bức vẽ chân dung cô gái rất xinh đẹp. Thơ cầm lên nhìn và giật bắn người khi thấy rõ người con gái trong bức vẽ chính là mình ! Thơ chớp mắt mấy cái, ngỡ mình nhìn lầm, nhưng càng nhìn kỹ, Thơ càng thấy rõ hơn khuôn mặt của mình hiện ra lung linh, kỳ ảo sau những nét vẽ của thằng Khoèo!… Lật tiếp những tờ giấy khác sau bức vẽ đó, Thơ càng kinh ngạc khi thấy rằng cả một tập bản vẽ trong cái bao nilon đó đều là hình ảnh của Thơ với nhiều tư thế khác nhau. Thơ đếm được tất cả  hai mươi  bức vẽ. Một cảm giác kỳ lạ, chưa từng có bao giờ cứ dâng lên, mạnh dần, mạnh dần trong ngực Thơ, khiến cô tưởng chừng như ngạt thở !…

Cái thời hạn một năm trong kế “hoãn binh” của bà Lý  rồi cũng tới. Bà Lý băn khoăn không biết sẽ ra sao vì chẳng xin chuyển đi đâu được (cũng có mấy chỗ đồng ý nhận nhưng lại kèm theo điều kiện rất “nghiệt”)  mà nhìn vào mắt ông Mùi, bà thấy ngọn lửa “ham muốn” của ông ta còn bốc cao hơn năm ngoái ! Sợ ông Mùi thì ít, bà Lý sợ bà vợ của ông ta gấp trăm lần, bà ta đã đánh ghen “trăm trận” và bao giờ cũng phải “ ghi dấu ấn” lên mặt kẻ tình địch mới chịu !…Đang nghĩ mông lung, chợt bà Lý thấy trước mặt mình hiện ra mảnh giấy với dòng chữ : “Ngày chủ nhật tức ngày mai, “hai chị em” đến ăn tân gia nhà mới của tôi tại…Không được vắng mặt, chúng ta sẽ  “thanh lý hợp đồng” năm trước…”.  “Trời đất ơi ! – Bà Lý nghĩ thầm – Ông này tính làm thiệt chứ không phải chơi ! Tân gia tức là cái nhà ông ta thuê lén để ở với  “ bồ nhí” như mấy ông có máu dê thường làm ! Đến ăn tân gia tức là chấp nhận “nạp mạng” cho quỷ râu xanh ! Trời đất ơi, làm sao bây giờ ? Rồi bà Lý lại thầm rủa cái đầu óc mình sao mà ngu tối không nghĩ ra được mưu lược gì để giúp con bé Thơ thoát ra khỏi cái tai họa này !…
Rồi ngày chủ nhật cũng tới . Bà Lý đã ngồi bàn tính với Thơ suốt cả đêm thứ bảy mà không  nghĩ ra được kế gì, thằng Khoèo biết chuyện này của hai chị em nhưng nó rất bình thản. Bà Lý ôm chặt lấy Thơ thiếp ngủ lúc nào không hay. Trong giấc ngủ, bà Lý mơ thấy nàng công chúa xinh đẹp phải đi nạp mạng cho trăn tinh nhưng đã được chàng Thạch Sanh cứu thoát !…
Lúc bà Lý và Thơ tỉnh dậy thì đã hơn bảy giờ sáng, trời nắng rực rỡ hai người tính kêu thằng Khoèo đi cùng nhưng nó đã đi bán báo từ bao giờ. Dùng dằng một lúc , bà Lý kéo Thơ đi và nói : “ Chị sẽ bám sát em xem lão ta định giở trò gì ?…” .
Tân gia của bác sĩ Mùi ở trong một con hẻm rộng và vắng . Căn nhà mà ông ta thuê như một cái vila nhỏ , nằm khuất sau một hàng rào cây cối um tùm . “ Thật là thích hợp cho những âm mưu mờ ám” – vừa bước vào cổng ,bà Lý chợt nghĩ và thoáng rùng mình . Bác sĩ Mùi đã chờ sẵn ở gian phòng ngoài được trang trí khá đẹp. Vừa ngồi xuống bộ salông nệm cao lút đầu người , bà Lý lại thốt giật mình và có cảm giác như bị một sức mạnh bí ẩn nào đó kéo đi mãi vào một con đường hầm hun hút tối om…Còn Thơ , vừa ngồi xuống bộ salông , cô đã chạm phải ánh mắt kỳ quái của ông Mùi , cô thấy lạnh run người  và phút chốc như là bị nhấc bổng lên những tầng mây xốp bồng bềnh…
Khi bà Lý tỉnh lại, bà vẫn thấy mình ngồi trong cái salông cao lút đầu, đối diện với bà là ông Mùi, bị trói chặt cứng trong một cái ghế dựa bằng gỗ khung sắt. Ông ta đã ngất xỉu. Một mảnh giấy để trước mặt bà Lý có dòng chữ:”Em đã sơ cứu, chị đưa ông ta đến Trung tâm cấp cứu và bỏ ông ta ở đấy. Ông ta phải bị trừng phạt vì đã âm mưu đánh thuốc mê chị em mình để… May mà thằng Khoèo thông minh đã biết trước âm mưu đen tối đó:..”
Sau này, những người quen biết cũ của ông bác sĩ Mùi có đến tìm ông ta thì chỉ thấy một người hao hao như ông Mùi ngày xưa đang đi lại trong cái sân nhỏ, cứ năm phút ông ta lại rú lên kinh hoàng, bộ mặt thoắt  biến dạng, méo mó như mặt quỷ và mồm thì phát ra những âm thanh không giống tiếng người gì cả! Lúc  ấy, bà vợ ông ta, to béo như hộ pháp, cầm cái roi mây quật túi bụi vào ông ta và rít lên the thé !…
TP.HCM, 1997-2009
Đỗ Ngọc Thạch
Cậu bé đến trường bằng đôi nạng gỗ

“Sinh ra tôi vẫn khỏe mạnh bình thường, nhưng chỉ sau một đêm, tôi đã
trở thành người khuyết tật. Số phận nghiệt ngã đã cướp đi đôi chân lành lặn
của tôi, nhưng nó sẽ không làm tôi gục ngã. Tôi sẽ đứng lên bằng chính
đôi chân tật nguyền này”.